CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của Chim Yến hàng, 1. Vị trí phân loại Tên phổ thông: Chim yến hang. Tên khoa học: Aerodramus germani Oustalet, 1876 “Thuộc họ Yến (Apodidae), bộ Yén (Apodiformes), lap Chim (Aves).
Đặc điểm hình thái, cầu tạo Chiều dài trung bình cơ thể chim yến hàng khoảng 12cm (10-16cm). Chim yến trưởng thành khá đồng nhất giữa các cá thể về màu sắc hình thái ngoài. Đinh đầu, hai cánh và đuôi màu đen đậm, trên lưng màu nâu den, dưới bụng và ngực màu nhạt hơn trên lưng. Phần đính đầu được bao phủ một ít lông có phiền rộng.
Lông chỗ họng có sọc, thân lông tối. Lông cánh có viền nhạt và rộng. Có một dải lông hơi xám trắng ở cuối lưng, nơi tiếp giáp với lông đuôi. Đuôi dài trung bình 53,8mm chia thành 2 thùy.
không sâu lắm [16] Màu mắt nâu tối. Mỏ đen, dài trung bình 4. Chân đen với một hàng lông tơ nhỏ ở mặt trong và mặt ngoài, chân có 4 ngón với các móng cong sắc [I6] Tiếng kêu rít và cao. Có khả năng phát ra âm thanh dò đường trong hang tối (âm.
dội định vị) có dạng như tiếng cạch. Chim có đôi cánh khỏe, mút cánh dài quá đuôi, vút cong, chiều đài trung bình 122,9 mm, có thể bay liên tục 40 giờ không nghị, tốc ô bay đạt tới 80-100 kmưgiò Chân yếu không đậu được, chỉ đu bám bằng các móng chân sắc nhọn. Trứng màu trắng dễ vỡ, thường đẻ 2 quả, kích thước trung bình 13x22mm. Tổ làm hoàn toàn bằng nước bọt do chim tiết ra và thường có một ít lông chim dinh vao [1], [16], [19].
Vùng sống và nơi làm tổ Loài chim yến hàng hay sống thành quần đàn, làm tổ từng cặp riêng rẽ, thường kiếm ăn ở những chỗ gần nước (sông, hồ, biển), có đồng ruộng, rừng cây thấp và ít di chuyển đến các khu rừng rậm. Chim yến hàng là loài chim có thể bay lượn xa và cao, nhưng ít khi chúng bay xa đến các vùng có độ cao trên 1. Bình thường chim kiếm ăn ở khoảng cách xa hang động hoặc nhà yến đến 50 km. Chim cũng kiếm mỗi ở những nơi có nhiều cây cao và trong khoảng không có các côn trùng nhỏ nhưng thường bay ở độ cao dưới 30m, do khi lên cao mật độ côn trùng bay trong.
không khí giảm dần. Thỉnh thoảng chỉm bay sà xuống mặt nước để tắm và uống nước, chúng uống nước và bắt mi trong khi bay [10], [13] Hình 1. Chim yén hang trong mùa sinh sản tại đảo Hòn Tai, Cù Lao Chàm (Anh. NLH Son) Môi trường sống thích hợp để chim kiếm mỗi là vùng có đủ thức ăn cho chỉm yến trong suốt cả năm, vùng mà chim có thể bắt các loại côn trùng bay suốt từ sáng sớm.
đến chiều tối. Đặc điểm của một vùng kiếm ăn lý tưởng là có 50% diện tích cây thấp dưới Im như ruộng lúa, đồng cỏ.; 30% diện tích cây cao trên 5m như keo dậu, xà cử, tràm, cọ, dừa.; và 20% mặt nước thoáng. Chim thường rời tổ từ lúc Sh sáng và về tổ từ lúc 16h30" lén 19h30' (tùy điều kiện thời tiết trong ngày và từng mùa trong năm) [19], [13] Nơi chim làm tổ cũng là noi chim trở về để ngủ nghỉ, đu bám, xây tổ, đẻ trứng và nuôi con. Là một nơi chỉm có thể bay vào, bay ra dễ dàng, làm tổ dễ dàng, yên tĩnh, che khuất để chim cam thấy an toàn và ít sự đe dọa của động vật gây hại (các hang đá cheo leo ngoài đáo).
Noi đó có điều kiện nhiệt độ dao động từ 24-31, độ ẩm trong phạm vi 75-95%, ánh sáng từ tối hoàn toàn đến mờ tối (0-2lux), có đối lưu không khí, thoáng mát. Các điều kiện này là cần và đủ để bảo đảm cho chim trú ngụ và sinh sản [19], [13] 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu chim yến trên thế gi và Việt Nam 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu chìm yến trên thế Chim yến (4erodramus) là loài chỉm đặc biệt được con người chú ý và nghiên cứu từ rất sớm.
Người ta đã phát hiện ra các hóa thạch của chim yến ở Indonexia và Malayxia, Borneo cách đây hơn 48 nghìn năm. Nghiên cứu về sinh học sinh sản và các yếutố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của chim yến đã được thực hiện ở hang Niah, Sarawak [38], [39]. Năm 1977, Medway et al. đã sử dụng đặc điểm âm dội định vị để 6 xây dựng hệ thống phân loại chim yến [40].
Một số nghiên cứu di sâu về cấu trúc tổ và đẻ trứng của các loài yến cho tổ ăn được trong giống 4erodramus và ứng dụng trong. khai thác tổ yến [34]. Có những nghiên cứu riêng về sinh học sinh sản của loài yến Aerodramus fuciphagus [35]. Nghiên cứu về thành phần thức ăn của các loài yến [37] Nhiều nghiên cứu tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của việc khai thác tổ yến lên quần dan chim yến (Collocalia ficiphaga) ở các đảo Andaman va Nicobar [44].
Nghiên cứu phân loại chim yến bằng kỹ thuật phân tử cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm [32], [36], [45] Nghiên cứu về hệ thống phân loại chim yến (Apodiformes) trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu từ rất sớm nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều điểm còn tranh luận và cần làm rõ. Năm 1977, Medway va Pye [40] da sir dung tiếng kêu định vị để xây dựng hệ thống phân loại chim yến. Giống Aerodramus trong ho Yến (Apodiformes: Apodidae) cho đến nay trên thế giới xác định có khoảng 29 loài. Đây là nhóm chim yến nhỏ, có màu lông tối, làm tô trong hang.
Chúng phân bồ ở khu. vực nhiệt đới và á nhiệt đới vùng Nam Á, châu Đại Dương và Đông Bắc Úc. Đây là nhóm chim phân loại rất khó do sự tương đồng vẻ hình thái inh vi bằng tiếng vang, xác định trình tự ADN, xác định động vật kí sinh trên vật chủ, dựa vào tập tính bay, dựa vào hình thái tổ là những phương pháp thường được áp dụng để xây dựng mối quan hệ giữa các loài trong nhóm chỉm này. Trong số các loài thuộc giống 4erodramus, người ta xác định có 3 loài chim yến cho tổ ăn được, bao gồm: Yến tổ trắng ăn được hay Yến hông xám - 4.
fuciphagus, Yến ấn độ - 4. unicolor, Yến tô đen hay Yến xiêm - 4. Loài Yến tổ trắng ăn được xác định có 8 phân loài trên thế giới [7], bao gồm: Aerodramus fuciphagus inexpectatus, Aerodramus fuciphagus amechanus, Aerodramus fuciphagus germani, Aerodramus fuciphagus vestitus, Aerodramus fuciphagus perplexus, Aerodramus fuciphagus fuciphagus, Aerodramus fuciphagus dammermani, Aerodramus fuciphagus mieans [33]. Một số phân loài đã được tách riêng nâng lên thành loài.
Trước bối cảnh của biến đổi khí hậu, các nghiên cứu gần đây trên thế giới đang. hướng tới tìm hiểu sự thích ứng của các quần đàn chim yến với sự thay đổi này. thời, các giám sắt về bi động quần đàn chim yến đảo trong bối cảnh công nghiệp nuôi yến nhà đang phát triển rất mạnh ở các nước Đông Nam Á cũng được chú ý I2] 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu chìm yến hàng ở Việt Nam Cho đến nay, theo Danh lục chim Việt Nam (Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Van, 2011), ho chim Yén (Apodiformes: Apodidae) ở Việt Nam có 10 loài [21].
Yến tổ trắng ăn được ở Việt Nam được xác định bước đầu thuộc phan loai Af germani. Phân loài này hiện nay được nhiều tác giả tách riêng ra và nâng bậc phân loại lên là loài riêng biệt có tên khoa học là 4erodramus germani Oustalet, 1876. Tên đồng vật (synonym) của loài này là Collocalia germani. Cho đến nay, các tài liệu về Danh lục chim thể gi ¡ có uy tín như Hiệp hội Điều học quốc tế (IOC) ver 8.2 - 2018 [51], Danh lục chim thế giới của Clement (v.2018) [52], Danh lục chim thế giới của Howard.
and Moore tai bản lần thứ 3 (2003) [22] đều thống nhất định tên của loài chim yến hàng vốn trước đây đặt ở vị trí phân loài 4,//germani nâng lên thành loài riêng biệt có tên khoa học là 4erodramus germani. Riêng danh lục chim ver 2-2017 của HBW - Tổ chức bảo tồn chim thế giới BirdLife International và Câu lạc bộ chim phương Đông. (Oriental Bird Club) vẫn sử dụng tên giống Collocalia và tên loài là C. germani [53] Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn tên khoa học được dùng phổ biến của loài yén hang la Aerodramus germani.
Kết quả nghiên cứu của Phach Nguyen Quang et al. (2002) [43] cho thay & Việt Nam có hai phân loài chim yến hàng. Một phân loài phân bố ở miền Trung và miền Nam (Yến đảo). Một phân loài chim yến sinh sống và làm tổ trong các nhà yến xây dựng ven biển (Yến nhà).
Yến đảo có màu lông ở hông sáng rõ tách biệt với lưng. 'Yến nhà có màu lông ở hông gần đồng màu hoặc hơi sáng hơn màu lông ở lưng. Như vậy, theo hệ thống phân loại hiện nay, phân loài làm tổ ở đảo có tên khoa học là Aerodramus germani amechanus, phân loài làm tỗ ở các nhà yễn trên đất liền là Aerodramus germani germani. Vào mùa đông, loài Yến Himalaya - Aerodramus brevirostris thường di cư đến vùng sống của phân loài 4.
germami, tuy nhiên chúng phân biệt với loài yến hàng ở đặc điểm kích thước lớn hơn và lông ở hông có màu xám hơn. Trong bối cảnh nghề nuôi chim yến ở Việt Nam đang phát triển mạnh, mở rộng ra nhiều tỉnh trên cả nước, quan dan chim yến ngày một gia tăng thì việc xác định chính xác về mặt phân loại học các chủng quần chim yến ở các vùng khác nhau trên cả nước có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý, định hướng phát triển bền vững nghề nuôi chim yến. Bởi lẽ, nếu không nắm rõ vị trí phân loại, vùng phân bố. của các phân loài, rất có thể dẫn tới hiện tượng lai ghép khác taxon dẫn tới thoái hóa suy giảm quần đàn.
Do khó khăn về mặt phân loại nên trong thời gian tới, các nghiên cứu về sinh học phân tử vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và so sánh để làm sáng tỏ hơn về mối quan hệ giữa các loài cũng. như các phân loài chim yến. Một số nghiên cứu bước đầu về loài chim yến dưới góc độ tiếp cận cơ sở sinh học phân tử ở Việt Nam đã được tiến hành trong thời gian gần đây. Cụ thể như nghiên cứu.
sự đa hình nueleotid trén gen MCIR ở chim yến hàng [5]. Chim yến hàng là loài đồng. hình giới tính nên việc xác định giới tính dựa vào hình thái ngoài là rất khó khăn [19] Xuất phát điểm đó, nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PCR để xác định giới tính ở loài chim này đã được tiến hành [6], [7].