Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài Trong nhiều năm qua, lĩnh vực nghiên cứu về khởi sự kinh doanh (KSKD), dự định KSKD được các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp kinh doanh của thanh niên, sinh viên. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến dự định KSKD của sinh viên đã được tiếp cận và thực hiện dưới nhiều góc độ, quan điểm và phạm vi khác nhau.
Các nghiên cứu đã đưa ra những nhân tố tác động đến dự định KSKD rất đa dạng từ môi trường, văn hóa, thể chế, tính cách cá nhân, đặc điểm cá nhân và rất nhiều nhân tố khác (xem Bảng tổng hợp các nghiên cứu ở nước ngoài tại Phụ lục 1). Thông qua việc lược khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu khác nhau, tác giả nhận thấy có các hướng tiếp cận chính gồm: (1) đặc điểm cá nhân/bản thân người học (tính cách, thái độ, nhận thức, giới tính,…), (2) chương trình giáo dục (chương trình giáo dục tinh thần kinh doanh hay sự hỗ trợ từ các trường đại học,…), (3) môi trường tác động (văn hóa, chính trị - xã hội, kinh tế, pháp luật,…) và (4) kết hợp các hướng trên (đặc điểm cá nhân, môi trường, giáo dục,…). Hướng tiếp cận thứ nhất: đặc điểm cá nhân/bản thân người học và dự định khởi sự kinh doanh. Liên quan đến hướng tiếp cận này, các nghiên cứu đã khai thác các yếu tố thuộc về bản thân người khởi nghiệp ví dụ như tính cách, thái độ, nhận thức, hoàn cảnh gia đình, giới tính,.
Chẳng hạn như, nghiên cứu của Shane và cộng sự (2003) đã đưa ra các tính cách như “chịu đựng sự mơ hồ”, “chấp nhận rủi ro”, “niềm tin vào năng lực bản thân”, “kiểm soát bản thân”, “đam mê”, “nỗ lực”, “có tầm nhìn” có mối quan hệ với dự định KSKD [111]. 10 Các nghiên cứu dựa trên nền lý thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) thì đa phần đều chứng minh “thái độ hướng đến hành vi kinh doanh” và “nhận thức kiểm soát hành vi” có tác động tích cực đến dự định KSKD của sinh viên. Chẳng hạn như nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001) đã ứng dụng lý thuyết hành vi hoạch định để phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong dự định khởi nghiệp của sinh viên đại học thuộc khối ngành kỹ thuật ở Bắc Âu và ở Mỹ. Nghiên cứu sử dụng một mẫu có kích thước lớn (3.445 sinh viên đại học) từ Phần Lan (Đại học Công nghệ Helsinki), Thụy Điển (Đại học Linkoping), Hoa Kỳ (Đại học Stanford, Đại học Colorado - Colorado Springs) và Vương quốc Anh (Trường kinh doanh London).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức kiểm soát hành vi nổi lên như là yếu tố quyết định quan trọng nhất ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp (hình 1. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ tập trung vào 3 nhân tố tác động chính là “chuẩn chủ quan”, “thái độ hướng đến hành vi kinh doanh” và “nhận thức kiểm soát hành vi” đến dự định KSKD trong khi còn nhiều nhân tố khác như sự hỗ trợ về giáo dục, môi trường,… chưa được đề cập trong mô hình nghiên cứu; và nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung vào phân tích đối tượng là dự định của sinh viên khối ngành kỹ thuật. Đặc điểm nhân khẩu học Thái độ đối với hành vi Chuẩn DỰ ĐỊNH chủ quan KINH DOANH Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 1.1: Mô hình kinh doanh giữa các sinh viên ở Bắc Âu và ở Mỹ (Nguồn: Autio và cộng sự, 2001) Cũng dựa trên nền lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991), nghiên cứu của Wu và Wu (2008) cho thấy “thái độ đối với hành vi khởi nghiệp” và “nhận thức kiểm soát liên quan đến hành vi” đều tác động tích cực đến “dự định khởi nghiệp” của sinh viên, tuy nhiên không có bằng chứng thống kê chứng minh 11 “chuẩn chủ quan” tác động tích cực đến “dự định khởi nghiệp” [123]. Kết quả này tiếp tục được khẳng định ở nghiên cứu của Boissin và cộng sự (2009) khi kiểm định và so sánh ở hai thị trường Mỹ và Pháp cho thấy, “thái độ hướng đến khởi nghiệp” và “đánh giá hiệu quả bản thân” đều tác động tích cực đến “dự định khởi nghiệp” của sinh viên, tuy nhiên không có bằng chứng thống kê cho thấy “chuẩn chủ quan” tác động tích cực đến “dự định khởi nghiệp” ở cả hai thị trường này (trích dẫn trong Ngô Thị Thanh Tiên và Cao Quốc Việt, 2016) [29].
Như vậy, từ các nghiên cứu trên cho thấy sự ổn định của yếu tố thái độ đối với hành vi kinh doanh và nhận thức kiểm soát hành vi kinh doanh đều tác động tích cực đến dự định khởi nghiệp của sinh viên, còn mối quan hệ giữa yếu tố chuẩn chủ quan với dự định khởi nghiệp thì kết quả của các nghiên cứu chưa có sự đồng nhất. Do vậy, cần thiết kiểm định lại mối quan hệ này ở các thị trường khác nhau có vai trò quan trọng trong việc khẳng định tính giá trị và khái quát hóa của lý thuyết. Nghiên cứu về vai trò của nền tảng gia đình ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp của sinh viên, Wenjun Wang và cộng sự (2011) đã áp dụng mô hình sự kiện KSKD của Shapero và Sokol (1982) (The entrepreneurial event - SEE) với mục tiêu tập trung so sánh các yếu tố quyết định đến dự định khởi nghiệp của sinh viên các quốc gia khác nhau. Thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm đối với 399 sinh viên của 3 trường ĐH ở Trung Quốc, 4 trường ở Mỹ.
Kết quả phân tích cho thấy, nhân tố nhận thức sự ham muốn kinh doanh, nhận thức tính khả thi và kinh nghiệm làm việc của sinh viên có tác động trực tiếp đến dự định khởi nghiệp ở cả hai nước. Ngoài ra, nền tảng kinh doanh của gia đình, tính cách doanh nhân (chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo, tính tự quyết, sự độc lập) cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến dự định khởi nghiệp. Tuy nhiên, nếu như ở Trung Quốc kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp tới dự định khởi nghiệp thì ở Mỹ nhân tố này không có ảnh hưởng. Nền tảng kinh doanh gia đình có tác động tích cực đến sự ham muốn kinh doanh ở sinh viên Trung Quốc trong khi tác động tích cực đến sự sẵn sàng kinh doanh ở sinh viên Mỹ [122].
Kết quả nghiên cứu cho thấy, rõ ràng có sự khác biệt nhất định về các nhân tố ảnh hưởng đến dự định 12 khởi nghiệp của sinh viên ở các quốc gia khác nhau. Khi nghiên cứu về giới tính ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp của sinh viên, Sullivan và Meek (2012), Zhang và cộng sự (2009) đưa ra kết quả cho thấy ý định khởi nghiệp của nữ cao hơn của nam [116][126]. Nicolaou và Shane (2010) thì kết luận rằng không có sự khác nhau giữa ý định khởi nghiệp của Nam và Nữ [95]. Maes và cộng sự (2014) thì chứng minh dự định khởi nghiệp của Nữ yếu hơn của Nam, cụ thể là yếu tố “Thái độ cá nhân” giải thích ý định khởi nghiệp của Nữ yếu hơn của Nam; “sự kiểm soát hành vi” giải thích ý định khởi nghiệp của Nữ yếu hơn của Nam [90].
Như vậy, có sự mâu thuẫn về kết quả của các nghiên cứu về giới tính ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh, điều đó cho thấy cần có thêm các nghiên cứu về vai trò của giới tính trong dự định khởi sự kinh doanh. Hướng tiếp cận thứ hai: chương trình giáo dục và dự định khởi sự kinh doanh Nghiên cứu của Francisco Linan (2004) đã tích hợp hai lý thuyết của Shapero và Sokol (1982) và Ajzen (1991) vào một mô hình dự định khởi nghiệp. Theo đó, tiền đề của dự định khởi nghiệp được xác định bởi: kiến thức kinh doanh, nhận thức mong muốn và nhận thức tính khả thi (hình 1. Kiến thức kinh doanh Nhận thức mong muốn Thái độ Dự định khởi nghiệp cá nhân Nhận thức theo chuẩn xã hội Nhận thức tính khả thi (tự hiệu quả) Hình 1.
Mô hình dự định khởi nghiệp dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh (Nguồn: Linan, 2004) 13 Kết quả của nghiên cứu cho thấy, kiến thức kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến dự định khởi nghiệp; đồng thời cũng ảnh hưởng gián tiếp đến dự định khởi nghiệp thông qua thái độ hướng tới tinh thần kinh doanh và nhận thức tính khả thi của sinh viên; các chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng rất yếu đến dự định khởi nghiệp. Để xây dựng chương trình giáo dục tinh thần kinh doanh, Linan (2004) sử dụng mô hình này làm cơ sở phân loại giáo dục tinh thần kinh doanh thành: giáo dục nhận thức kinh doanh, giáo dục khởi động, giáo dục tính năng động trong kinh doanh và giáo dục cho các doanh nhân. Việc phân loại các hoạt động giáo dục sẽ giúp làm tăng thêm dự định thực hiện hành vi kinh doanh và xác định các biến thực hiện dự định hành vi [83]. Như vậy, nghiên cứu của Linan (2004) đã khẳng định vai trò của giáo dục tinh thần doanh nhân và đặt cơ sở khoa học cho việc nên phân loại hoạt động giáo dục trong việc thúc đẩy tinh thần kinh doanh trong sinh viên, phân biệt rõ ràng giáo dục khởi sự kinh doanh với đào tạo quản lý thông thường.
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận thì nghiên cứu cũng có những hạn chế nhất định, tương tự như nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001), nhiều yếu tố quan trọng khác như yếu tố về kinh tế, văn hóa hay đặc điểm tính cách cá nhân chưa được đề cập trong nghiên cứu này. Nghiên cứu về vai trò của giáo dục khởi nghiệp, Hong và cộng sự (2012) cho rằng, chất lượng khởi nghiệp của sinh viên liên quan tới chương trình giáo dục khởi nghiệp vì nó làm giàu kiến thức về khởi nghiệp và giúp phát triển các kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên. Trường đại học phải tập trung chú ý nhiều hơn nữa đến chương trình giáo dục khởi nghiệp của mình, tập trung vào các doanh nghiệp sinh viên, kết nối với xã hội, trao cho sinh viên nhiều cơ hội khởi nghiệp và phải chú trọng đến cơ hội thực tập va chạm thực tế của sinh viên [68].