Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế giới 1. Phân loại, tên gọi, mô tả hình thái, đặc điểm phân bố và giá trị sử dụng - Tên gọi: Tên khoa học là: Stephania dielsiana Y. [30] - Hình thái: Củ dòm đã được nhiều tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau nghiên cứu và mô tả.
Việc mô tả hình thái loài nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả. Theo cuốn Hệ thực vật rừng Trung Quốc [30] thì Củ dòm là cây thảo, sống nhiều năm, rễ củ to, nói chung dạng cầu, kích thước thay đổi nhiều. Thân nhỏ, mọc leo dài 2 - 3 m. Thân già màu nâu bạc, thân non màu tím nhạt.
Thân, lá, cụm hoa đều không lông. Lá đơn nguyên mọc cách, cuống dài 4,5 - 8,5cm, cuống đính lá hình khiên, phiến lá hình tam giác tròn, dài 5 - 15 cm, rộng 4,5 - 14cm, mép lá có thể hơi gợn sóng hoặc có răng tù, cả hai mặt lá đều nhẵn bóng. Gân lá xếp dạng chân vịt, có 8 – 10 gân, xuất phát từ chỗ đính cuống lá. Ngọn non, cuống lá non và cụm hoa chứa dịch màu tím hồng.
Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực do 1 - 3 xim tán họp thành xim tán kép, hoa nhỏ, cuống ngắn, có 6 lá đài xếp 2 vòng, màu tím, 3 cánh hoa hình quạt tròn, màu hồng cam, cong vào phía trong. Cột nhị ngắn, bao phấn dính thành đĩa 6 ô. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Cụm hoa cái gồm 7 - 8 đầu nhỏ, cuống cực ngắn xếp dày thành dạng đầu, hoa nhỏ, cuống rất ngắn, hoa có một lá đài màu tím, 2 cánh hoa màu hồng cam, hình quạt tròn, cong, có các chấm và vân tím, đầu nhụy có 4 - 5 thùy giùi.
Quả hình trứng đảo, dẹt 2 bên, dài 0,8 - 0,9 cm, rộng 0,7 - 0,75 cm. Hạt hình trứng ngược (dẹt giống móng ngựa ), cụt đầu, có lỗ thủng ở giữa, trên lưng có 4 hàng gai cong nhọn. - Sinh học và sinh thái: Phân bố ở bìa rừng, ven các con suối. Mọc chồi thân hoặc từ cổ rễ vào đầu mùa xuân.
Sau khi bị chặt phá, phần còn lại vẫn có khả năng tái sinh. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng. Thường mọc ở rừng kín thường xanh ẩm đã trở nên thứ sinh; ở độ cao 300-600 m. - Phân bố: Củ dòm mọc ở bìa rừng hoặc nơi có đá lộ đầu ven suối, hiện còn phân bố ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Qúy Châu, Hồ Nam của Trung Quốc.
[26] - Giá trị sử dụng: Theo Viện dược liệu Trung Quốc [25], Củ dòm có giá trị rất đặc biệt trong việc điều trị các bệnh liên quan đến đau xương khớp và các bệnh liên quan đến hệ thần kinh, giảm đau. - Tình trạng: Sẽ nguy cấp. Cây có trữ lượng ít lại bị khai thác nhiều. Mức đe dọa: Bậc V.
- Phân hạng: Trong danh lục sách đỏ của IUCN thì loài thuộc nhóm VU B1+2 b,c. - Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách đỏ của tổ chức bảo tồn IUCN (1992) với cấp đánh giá "sẽ nguy cấp" (V). Bảo vệ những cá thể còn sót lại ở trong tự nhiên. Thu thập về trồng nghiên cứu bảo tồn ngoại vi (Ex situ).
Trồng được bằng hạt hoặc bằng cây con mọc tự nhiên. Tình hình nghiên cứu bảo tồn cây thuốc trên thế giới Cây thuốc là nhóm tài nguyên thực vật có giá trị trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và có giá trị kinh tế cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Cách đây 3.000 năm, y học cổ truyền Trung Quốc, Ấn độ “Ayurradic medicine” và “Unani medicine” đã ghi nhận về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc. Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF), có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới.
Con người ngày càng phát hiện nhiều loài cây thuốc có giá trị.000 loài; Ấn Độ có khoảng 6.000 loài; Vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1.900 loài thực vật có hoa được sử dụng rộng rãi. Ở các nước châu Phi như Zaire, Botswana, Kenya,… người dân chủ yếu chữa bệnh bằng các cây thuốc ngoài tự nhiên [31]. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển (chiếm khoảng 3,5-4,0 tỷ người trên thế giới)[33] có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nền y học cổ truyền. Phần lớn trong số đó phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc các chất chiết xuất từ dược liệu.
Với mức độ thương mại và sử dụng ồ ạt của con người đã dẫn đến sự báo động về hiện tượng thu hẹp đáng kể đa dạng sinh học (ĐDSH), Theo tư liêụ của IUCN [27], trong 43.000 loài thực vật mà tổ chức này có thông tin thì có tới 30.000 loài được coi như bị đe dọa, trong đó tất yếu có nhiều loài cây dược liệu. Ở Trung Quốc, theo He Shan An và Cheng Zhong Ming (1991), một số loài Dioscorea spp. vốn mọc tự nhiên ở nhiều nơi có thể khai thác tới 300.000 tấn trong những năm 50, nay đã bị giảm sút nghiêm trọng và đã phải nhân trồng. Một số loài khác như: Fritillarria cirrhosa (dùng để chữa ho), Iphigenia indica (có tác dụng chữa ung thư), Stephania dielsiana C.
Wu, 1940, Paris polyphylla, Gastrodia elata, Nervilia fordii… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nguyên nhân gây lên sự suy thoái nghiêm trọng này trước hết là sự khai khác quá mức và do môi trường sống của chúng bị huỷ diệt. Điểm đáng chú ý ở đây là các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới chiếm tới 3/5 mức độ đa dạng sinh học của thế giới, lại là nơi bị tàn phá nhiều nhất. Theo số liệu của tổ chức liên hợp quốc FAO, chỉ trong vòng 40 năm diện tích rừng trên bị thu hẹp tới 44%.
Tính ra mỗi năm diện tích rừng bị thu hẹp 75.000 ha, rừng bị mất đi có nghĩa là các cây thuốc ở đó cũng mất đi, đồng thời kéo theo nhiều hậu quả tai hại khác. Mặt khác, như chúng ta biết diện tích rừng nhiệt đới trên trái đất tập trung chủ yếu ở các quốc gia đang phát triển. Ở nơi đó vốn tri thức về cây cỏ và cây thuốc truyền thống rất phong phú. Trong khi đó việc điều tra nghiên cứu về những kinh nghiệm này hiện còn rất ít ỏi.
Theo Akerele (1991) vấn đề bảo tồn cây thuốc ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử dụng chúng trong y học dân tộc. Đề cập đến bảo tồn những loài cây thuốc đang bị đe dọa, Hamann (1991) cũng cho rằng không có cách nào khác là phải nắm vững về phân bố, tình hình hiện trạng của chúng để thiết lập các khu vực bảo tồn nguyên vị (in-situ) và bảo tồn chuyển vị (ex-situ). - Bảo tồn in-situ là bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền của các loài cây mục đích "tại chỗ" trong các hệ sinh thái tự nhiên hoặc nguyên gốc mà chúng đã tồn tại trước đó, hoặc trên lập địa trước đây đã có hệ sinh thái ấy. Mặc dầu bảo tồn in situ phần lớn được áp dụng cho các quần thể được tái sinh tự nhiên, song bảo tồn in situ vẫn có thể bao gồm việc tái sinh nhân tạo vào bất cứ lúc nào mà việc gây trồng được thực hiện trên cùng một diện tích ở nơi đã thu hái hạt hoặc vật liệu giống (Tewari, 1993).
- Bảo tồn chuyển vị (ex-situ) là bảo tồn các bộ phận hợp thành của ĐDSH bên ngoài môi trường sống của sinh vật trong những điều kiện, phương tiện như: Vườn thực vật, Ngân hàng hạt (Seed bank), Ngân hàng gen LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các quần thụ bảo tồn ex-situ đã được xây dựng cho đến nay đều thuộc loại bảo tồn tiến hoá và bảo tồn chọn lọc (Palmberg, 1985). Để bảo tồn ex-situ đạt hiệu quả cao thì điều quan trọng là duy trì được tính toàn vẹn di truyền trong quá trình bảo tồn. Đối với các nước đang phát triển thường có vốn gen phong phú chưa được sử dụng, song lại thiếu kinh phí và cán bộ cho hoạt động bảo tồn, hợp tác quốc tế sẽ khắc phục được hiện tượng này.
Hiện nay có khoảng 1.500 vườn thực vật trên thế giới, trong đó có 152 vườn của 33 quốc gia là chuyên trồng cây thuốc. Trung Quốc có 5 vườn thực vật quốc gia, thì có 2 vườn cây thuốc nổi tiếng thế giới. Nhật Bản có 10 vườn cây thuốc trong 26 vườn. Hoa Kỳ có 2 vườn chuyên trồng cây thuốc trong tổng số 13 vườn thực vật.
Bước vào thế kỷ XXI, chúng ta nhận thấy y học còn bất lực trước rất nhiều bệnh nan y: Bệnh ung thư, bệnh AIDS, bệnh tim mạch… Y học cần phải tích cực tìm kiếm các loại thuốc mới đặc trị, mà trước hết vẫn phải trông chờ vào các thuốc từ nguồn cây cỏ. Chính vì vậy, công tác bảo tồn các loài cây thuốc là thật sự cần thiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu bảo tồn cây Củ dòm trên Thế giới.
Ở Trung Quốc đã thành lập nhiều Vườn Quốc gia, các Khu Bảo Tồn để bảo tồn các loài cây quý hiếm, trong đó có loài Củ dòm. Hiện nay Viện dược liệu Quảng Đông- Trung Quốc [32] đã nhân giống thành công loài này và đang bắt đầu sản xuất để phục vụ trong y tế. Phân loại, tên gọi, mô tả hình thái, đặc điểm phân bố và giá trị sử dụng - Tên gọi: Tên thông thường: Củ dòm Tên khác: Bình vôi nhựa tím, Cà tòm (dân tộc Tày ở Tuyên Quang)[35], Củ gà ấp, củ ngỗng [13], Mằn cà toòm đeng (Tên theo tiếng địa phương ở Bắc Kạn) [23] Tên khoa học: Stephania dielsiana C. Wu, 1940,[4] Vì Loài này thường mọc ven bờ suối, củ cái và củ đực đối nhau hai bên bờ suối.
Nếu đào được một củ ở bờ suối bên này ắt sang bờ suối bên kia sẽ đào được một củ nữa và vì thế người Thanh Sơn – Phú Thọ gọi là Củ dòm [34]. - Phân loại: Củ dòm thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), Bộ Mao lương (Ranunculales)[4]. - Hình thái: Theo sách đỏ Việt Nam (trang 286) thì cây Củ dòm được mô tả khá tỉ mỉ: Dây leo nhỏ, sống nhiều năm. Rễ củ to; thân leo cuốn, dài khoảng 3m; thân non màu tím hồng nhạt.
Toàn cây không lông. Lá đơn nguyên, mọc so le, có cuống dài 4,5-8,5 cm.