Đặt vấn đề Các loại nấm lớn, bao gồm nấm ăn và nấm dược liệu đã gắn liền với cuộc sống của con người từ rất lâu. Chúng ta hẳn đã quen thuộc với các loại nấm ăn như nấm rơm, bào ngư, mộc nhĩ, nấm hương, nấm mối…như là những món ăn ngon, bổ dưỡng, cung cấp dinh dưỡng cho con người. Nấm không những dùng làm thực phẩm để chế biến các món ăn hằng ngày mà còn làm dược liệu (nấm linh chi) hay sản xuất các loại thực phẩm chức năng, các loại thuốc điều trị một số bệnh. Một số nấm rất giàu khoáng chất đặc biệt là K, P, Ca, Mg, Mn và Se; quan trọng nhất là vitamin D, B và chất xơ (Manzi et al., 1999; Sanmee et al.
Nấm là nguồn protein chất lượng có chứa tất cả các axit amin thiết yếu cần thiết cho con người (Mattila et al., 2002; Colak et al. Nấm chứa rất ít cholesterol nhưng giàu axit béo không bão hòa và nhiều carbohydrate dễ tiêu hóa (Breene, 1990), đó là những đặc tính tốt của một thực phẩm lý tưởng cho những người béo phì và phòng chống bệnh tiểu đường. Một số nấm được cho là đang được sử dụng như thực phẩm điều trị hữu ích trong việc ngăn ngừa các bệnh như cao huyết áp, tăng cholesterol máu, xơ vữa động mạch hoặc ung thư (Tidke et al. Nấm mối (Termitomyces sp.) là loại nấm có giá trị dinh dưỡng rất cao.
Nó chứa đầy đủ các axit amin không thay thế và khoáng chất với hàm lượng cao (Masamba et al., 2010; Nakalembe et al. Một số loài nấm mối được sử dụng làm dược liệu như T. striatus tác dụng chống lão hóa (Adewusi et al. heimii chứa axit béo ergosterol, linoleic tăng cường hệ thống miễn dịch, ngăn ngừa bệnh cao huyết áp (Abd Malek et al.
microcarpus giàu dinh dưỡng chứa 40% protein và 55% carbohydrat trọng lượng khô, (Chandra et al., 2009), đặc biệt nó có β-D-glucan có khả năng ức chế các tế bào ung thư (Villares et al. clypeatus kháng trực khuẩn Pseudomonas aeruginosa (Subrata et al., 2012) và hỗ trợ điều trị bệnh thủy đậu (Dutta et al. Thời gian gần đây thời tiết không thuận lợi cộng với tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nông nghiệp nên nấm mối mọc giảm hơn nhiều so với thời gian trước đây. Nếu không có biện pháp kịp thời có lẽ một ngày không xa chúng ta sẽ không còn cơ hội để nhìn thấy và thưởng thức nấm mối.
Về mặt khoa học chúng ta có thể nuôi trồng được tất cả các vật thể sống (từ cấp độ tế bào cho đến cơ thể sống) nhưng có lẽ nấm mối là loài đặc biệt, có đặc điểm sinh lý và cơ chế 1 biến dưỡng khác biệt hơn so với các loài nấm khác nên tới nay con người vẫn chưa thể trồng được. Ở Việt Nam, hiện nay nguồn cung cấp nấm ăn hay nấm dược liệu chủ yếu vẫn từ nền nông nghiệp với phương pháp truyền thống, nuôi trồng trên giá thể rắn, ngoài một số ưu điểm, phương pháp này chưa cho hiệu quả cao, tốn kém chi phí, nhân công, diện tích, còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, không gian, thời gian, vì vậy năng suất không ổn định và khó khăn trong việc tự động hóa quá trình sản xuất. Đặc biệt, nấm mối vẫn chưa nuôi trồng được bằng phương pháp truyền thống như các loài nấm lớn khác mà nguồn cung cấp ít ỏi vẫn từ tự nhiên. Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu nuôi cấy hệ sợi nấm như Linh chi, Vân chi.
trong môi trường lỏng thì hệ sợi các loài nấm trên chứa tương đối đầy đủ về số lượng cũng như chất lượng các hoạt chất sinh học và dinh dưỡng như trong thể quả. Vì vậy việc khảo sát môi trường nhân giống nấm mối trong nuôi cấy chìm là việc hết sức thiết thực, là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về nấm mối nhất là trong sản xuất sinh khối hệ sợi nấm. Chính vì những lí do trên, đề tài “Phân lập và khảo sát môi trường nhân giống nấm mối (Termitomyces sp.)” được thực hiện nhằm cung cấp giống nấm mối phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như bảo vệ nguồn gen quý hiếm của loài nấm này. Mục tiêu đề tài - Phân lập và định danh được một số chủng nấm mối mọc ngoài tự nhiên.
- Khảo sát một số thành phần chính của môi trường nhân giống nấm mối nhằm tìm ra môi trường thích hợp làm cơ sở để sản xuất sinh khối trên quy mô lớn. Nội dung nghiên cứu - Phân lập giống nấm mối thuần khiết - Định danh chủng nấm mối phân lập bằng phương pháp giải trình tự DNA kết hợp với các đặc điểm hình thái. - Cấy chuyền định kì để giữ giống nấm mối - Khảo sát môi trường dịch thể nhân giống nấm mối 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu - Nấm mối mọc ngoài tự nhiên - Môi trường phân lập nấm mối - Môi trường nuôi cấy nấm mối 2 4. Phạm vi nghiên cứu - Nguồn mẫu nấm mối thu ở Bình Dương - Mẫu thu vào tháng 6 đến tháng 8 hàng năm - Các thành phần của môi trường tác động chủ yếu trong nhân giống nấm mối bằng nuôi cấy chìm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về nấm Trong lịch sử, vào năm 1753 nấm đã được Linnaeus phân loại thuộc bộ Thallophyta (thuộc giới thực vật).
Điều này do phần lớn các thuộc tính cấu trúc giải phẫu tương đối đơn giản của nấm như thiếu rễ thật sự, thân, lá, hoa, và hạt. Sự hiện diện của thành tế bào ở nấm liên quan đến thực vật hơn là động vật. Nó bao gồm các loại tảo, vi khuẩn, nấm và địa y. Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng hệ sinh vật nấm, cùng với các loại nấm khác, có các tính năng của riêng mình.
Các loại nấm khác biệt so với giới thực vật và động vật là do khác nhau trong thành phần, cấu tạo của thành tế bào, dinh dưỡng theo kiểu dị dưỡng (osmotrophic), nhưng không phải là tiêu hóa như các loài động vật. Đây là các đặc điểm khác biệt để đặt chúng trong một giới riêng đó là giới Nấm (Miles et al. Năm 1969, Whitaker đã nêu hệ thống phân loại 5 giới: Khởi sinh, Nguyên sinh, Nấm, Thực vật và Động vật (Hình 1. Hệ thống phân loại sinh giới (Whittaker, 1969) Vào năm 1977, C.
Woese dựa vào trình tự nucleotide của 16S rRNA đã phân chia sinh giới thành 3 lãnh giới hay “siêu giới” là Bacteria, Archaea và Eukarya. Thực vật, động vật và nấm xếp chung vào Eukarya. Như vậy, nấm là một giới riêng trong lãnh giới Eukarya. 4 Giới nấm gồm những sinh vật nhân thực, cơ thể đơn bào hoặc đa bào, cấu trúc dạng sợi, phần lớn thành tế bào chứa kitin, không có lục lạp, không có lông và roi.
Nấm có hình thức sinh sản hữu tính và vô tính nhờ bào tử. Nấm là sinh vật dị dưỡng, chúng nhận các chất dinh dưỡng bằng hấp thụ qua bề mặt tế bào, khác với thực vật là tự dưỡng và động vật là nội tiêu hoá qua ống tiêu hoá. Nấm lớn theo nghĩa hẹp, mà mọi người dễ nhận thấy ngoài thiên nhiên hay được nuôi trồng, tiếng Anh là mushroom. Trên thế giới, mushroom có thể được hiểu khác nhau tùy đất nước và dân tộc.
Hiện nay, có thể tạm chấp nhận một định nghĩa: “nấm theo nghĩa hẹp là nấm lớn với quả thể phân biệt rõ, mà nó có thể mọc trên mặt đất hay dưới mặt đất và đủ to để thấy được bằng mắt thường và thu hái bằng tay” (Chang and Miles, 2004). Chu kì sống của nấm Đối với nấm Đảm trong trường hợp điển hình có thể tóm tắt chu trình sống như sau: Đảm bào tử khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cho ta sợi đơn bội. Chúng thường hình thành vách ngăn, tạo nên những tế bào một nhân. Dạng sợi này tồn tại rất ngắn, rồi chúng mau chóng tiếp xúc với sợi khác tính, giao phối sinh chất và diễn ra quá trình song hạch hóa để tạo nên sợi song hạch.
Ở phần lớn các loài, tế bào mọc ra một khuỷu – thường gọi là khóa (cầu nối) giữa hai nhân khác tính. Sau đó cả hai nhân đều phân chia để cho 4 nhân con, một nhân đi vào nhánh, một nhân ở lại gốc, còn 2 nhân khác tính ở phần đầu của sợi. Tiếp sau đó, khuỷu cong xuống, hòa tan màng, đỗ nội chất và nhân vào tế bào gốc, đồng thời xuất hiện vách ngăn với tế bào đỉnh. Kết quả là hình thành nên tế bào song hạch mới, tế bào dưới tế bào đỉnh lại trở nên song hạch và vết tích còn lại như chiếc cần của ổ khóa nên được gọi là khóa hay cầu nối, móc nối (Trịnh Tam Kiệt, 2011).2 Chu kì sống của nấm đảm (Nguồn: https://www.com/notes/biology/classification-of-fungi- part-2-f-sc-biology-chapter-8.
Các giai đoạn phát triển của nấm 1. Giai đoạn tăng trưởng Giai đoạn này thường dài, nấm ở giai đoạn này chủ yếu là dạng sợi. Sợi nấm (hypha) mỏng manh và gồm 2 nhân, có nguồn gốc từ 2 bào tử khác nhau nẩy mầm và phối hợp lại. Hệ sợi nấm (mycelium), còn gọi là hệ sợi dinh dưỡng len lỏi trong cơ chất để rút lấy thức ăn.
Khi khối sợi đạt đến mức độ nhất định về số lượng, gặp điều kiện thích hợp, sẽ bện kết lại tạo thành quả thể nấm (Nguyễn Hữu Đống và Đinh Xuân Linh, 2000; Nguyễn Hữu Đống et al., 2002, Trịnh Tam Kiệt, 2011). Giai đoạn phát triển Giai đoạn này thường ngắn, lúc bấy giờ sợi nấm đan vào nhau, hình thành một dạng đặc biệt, gọi là quả thể nấm (fruiting body), là cơ quan sinh sản của nấm. Trên quả thể có 1 cấu trúc, nơi tập trung các đầu ngọn sợi nấm, đó là thụ tầng (hymenium). Chính ở đây 2 nhân của tế bào sẽ nhập lại thành một.
Sau đó sẽ chia thành 4 nhân con hình thành các bào tử hữu tính (sexual spore), bào tử đảm (basidiospore) hoặc nang bào tử (ascospore). Khi tai nấm trưởng thành, bào tử được phóng thích, chúng nẩy mầm và chu trình lại tiếp tục (Nguyễn Hữu Đống và Đinh Xuân Linh, 2000; Nguyễn Hữu Đống et al., 2002, Trịnh Tam Kiệt, 2011) 6 1. Giai đoạn hình thành quả thể nấm Sự sinh trưởng của nấm diễn ra tới một lúc nào đó và trong những điều kiện xác định của các yếu tố bên trong cũng như nguồn dinh dưỡng và ngoại cảnh chuyển sang sự hình thành bào tử và các cơ quan mang bào tử như nang quả (ascocarpe), giá quả (basidiocerpe) được gọi chung là quả thể hay tai nấm. Cơ chế của sự hình thành quả thể là một vấn đề hết sức lý thú; mặc dù nó đã thu hút sự chú ý nghiên cứu của nhiều nhà nấm học, nhưng cho tới nay vẫn còn chưa giải quyết trọn vẹn (Trịnh Tam Kiệt, 2012).