đặt vấn đề về nghĩa xuất phát (không được quy ước 16 bởi ngữ cảnh) và nghĩa phái sinh (quy ước bởi ngữ cảnh) của hỡnh thỏi ngữ phop này [83, tr128]. Toc gia cũng cho rằng: “Có thé phân xuất các nghĩa phái sinh từ nghĩa xuất phát dựa vào bất biến thể ngữ nghĩa được hiểu như thành tố ngữ nghĩa buộc phải có mặt trong bất kỳ trường hợp sử dụng nào của chỉ tố ngữ phỏp”. Về sự phân chia các thời, có lẽ Từ điển Asher (1994) [154, tr4559- 4560] là trỡnh bày cụ thé nhất. Nhỡn chung, sự phon chia này bắt nguồn từ quan niệm về sự quy chiếu và mối quan hệ giữa thời gian diễn ra tỡnh huống với điểm quy chiếu.
Những thời sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu được gọi là thời tuyệt đối. Có thê phân biệt ba thời tuyệt đối: Thời hiện tại tuyệt đối: E trùng với S (John 1s eating an apple) Thời quá khứ tuyệt đối: E đi trước S (John ate an apple) Thời tương lai tuyệt đối: E đi sauS (John will eat an apple) Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện (time of event), S là thời điểm phát ngôn (time of speech). Những thời không sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu được gọi là thời tương đối. Có thé phân biệt ba thời tương đối: (1a) Thời hiện tại trơng đối: — E trùng vớiR - Those singing were told to be quiet.
(Những người dang hát được yêu cẩu giữ yên lặng) (2a) Thời quo khứ tương đối: E đi trước R. Vd: - Those having sung were asked to leave the stage. (Những người đó hỏt duoc yêu cau rời sân khẩu) (3a) Thời tương lai tuong đối: EđisauR - Those about to sing were asked to go onto the stage. Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện (time of event), R là điểm quy chiếu (time of referent).
17 Các động từ đó chia trong những vớ dụ trờn cú thời điểm quy chiếu hoàn toàn là thuộc về quá khứ. Đề giải thích thời điểm quy chiếu đó được mó hoo bởi hỡnh thức phon từ qué khứ, phải tom thời điểm quy chiếu trong ngữ cảnh. Thời điểm quy chiếu trong (1a) là thời điểm mà người hát được yêu cầu yên lặng và quá khứ phân từ định vị hành động của người hót như là bao phủ thời điểm quy chiếu thời gian mà họ được yêu cầu yên lặng. Trong (2a), thời điểm quy chiếu là thời gian mà họ được yêu cầu rời sân khấu và phân từ định vị hành động của người hát là đi trước thời điểm quy chiếu.
Trong (3a), thời điểm quy chiếu là thời điểm họ được yêu cầu lên sân khẩu, và phân từ định vị hành động của người hát đi sau thời điểm quy chiếu này. Thay đổi thời của động từ được chia trong các ví dụ trên thỡ thời điểm quy chiếu của phân từ cũng sẽ thay đổi. Vd: (1b) Those singing will be told to be quiet. Những người dang hát sẽ yên lặng.
(2b) Those having sung will be asked to leave the stage. Những người đó hot sẽ được yêu cau rời sân khấu. (3b) Those about to sing will be asked to go onto the stage. Những người chuẩn bị hat sẽ được yêu cầu lên sân khấu.
Ở đây, toàn bộ thời điểm quy chiếu lại thuộc về tương lai. Không xa lạ với quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài, Nguyễn Minh Thuyết (1998) khang định: “Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói”. Khi phạm trù thời biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn, ta gọi đó là thời tuyệt đối. Cũn khi phạm trự thời biểu thị quan hệ giữa hành động với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói, ta gọi đó là thời tương đối [35, tr234-235].
Phạm trự thời và vị ngữ VỊ ngữ là coi lừi của cõu, là trọng tốm của mọi mối liờn hệ trong cou. Trong cóc ngụn ngữ An-Au, vị ngữ là do động từ dam nhiệm. Vỡ vậy, theo một ý nghĩa nhất định, “động từ cũng là câu, tất cả những gỡ ảnh hưởng đến động từ thỡ cũng ảnh hưởng đến câu nói chung” [W. 18 Động từ là cái thé hiện sự vận động, mà mọi vận động đều diễn ra trong thời gian.
Do vậy, thời có liên quan chặt chẽ đến động từ, hay nói chính xác hơn, nó thuộc về động từ. Trong tiếng Đức, động từ được coi là loại tv cu thoi và gọi là Zeitwort [Dẫn theo Nguyễn Kim Than, 103, tr174]. “Thời được thiết lập từ sự quy chiếu cái vận động, thé hiện bang động từ, với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nào đó được người nói đề cập tới trong phát ngôn” [33, tr306 ]. Có thé khang định rang, nếu như thời gian là thuộc tính cố hữu cua vật chat tho trong coc ngụn ngữ An-Au, thời (và thé) là thuộc tính cố hữu của động từ.
“Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, vị ngữ bao giờ cũng là động từ được chia ở những thời và thể nhất định. Và ngược lại, một động từ trong câu được chia ở những thời và thể nhất định thỡ chứng tỏ động từ ấy là vị ngữ” [126, tr45]. Trong tiếng Việt, vị ngữ có thể do động từ, tính từ hay danh từ đảm nhiệm. Tuy nhiên, số câu mà vị ngữ là động từ vẫn là cơ bản (chiếm vào khoảng 88%, theo thống kê của Nguyễn Kim Thản [103, tr9]).
Động từ tiếng Việt không biến hỡnh như các ngôn ngữ An-Au, cho nên nó cũng không chia theo thời như các ngôn ngữ An-Au. Song, nếu như tiếng Việt có phạm trù thời, chắc chắn phạm trù này cũng không thể tách rời với ý nghĩa của các động từ, dù không phải chỉ với riêng động từ. Nói cụ thể hơn, đối với tiếng Việt, không phải tính từ không có quan hệ với thời gian bởi tính từ không chỉ hoạt động. Chúng ta đều biết, một tính chất dù tĩnh đến may cũng không đứng im.
Vẫn có thé có các kết hợp: đó khoé, sẽ lớn, đỏ lắm rồi. Và vỡ vậy, nếu tiéng Việt cú phạm try thời thỡ cũng khụng cú lý do gỡ dé cho rằng đây chỉ là phạm trù của riêng từ loại động từ. Chỉ cần các từ ấy là yếu tô vị tính. Điểm này hoàn toàn khác với các ngôn ngữ An-Au.
Tớnh từ và danh từ trong coc ngụn ngữ An-Au khung cú phạm tru thời. Vai trũ của phạm trù thời trong cách xác định thời gian Sự giải thích đầy đủ về cấu trúc thời gian của một văn bản luôn đũi hỏi nhiều nguồn thụng tin khỏc nhau, mà trong đó phạm trù thời chỉ là một. Phạm trù thời đường như có vai trũ rất nhỏ trong việc thành lập cấu trúc thời gian 19 cho văn bản song lại là một phần quan trọng của bất kỳ sự đánh giá nào về mặt ngữ phỏp và loại hỡnh cua một ngụn ngữ. Núi coch khoc, thời, với tư cách là một phạm trù ngữ pháp, chi là một trong nhiều cách mà ngôn ngữ có thể truyền đạt những thông tin liên quan đến thời gian.
Dĩ nhiên, so với các phương tiện từ vung thé cóch truyền đạt này không thé phong phú bang. Và, quả thực, chang cú gỡ đáng ngạc nhiên khi bất kỳ ngôn ngữ nào cũng sử dụng phương tiện từ vựng để định vị thời gian nhiều hơn là dùng phương tiện ngữ pháp. Song, trong những trường hợp nhất định, thời có thé kết hợp với các phương tiện từ vung dé lam rừ coc ý nghĩa qua khứ, hiện tại, tương lai của sự kiện. V6 dụ: - On Tuesday, Mary went to the beach.
- On Tuesday, Mary will go to the beach. Chính cách chia động từ ở thời qua khứ (câu thứ nhất) va tương lai (câu thứ hai) đó giyp chỳng ta xỏc định rừ Tuesday là thứ ba tuần trước (đó qua) hay thứ ba tới (chưa đến). Vỡ vậy, hai cõu tron cú thé dich là: - Thtr ba vừa rồi, Mary (đó) đi bién. - Thứ ba nay, Mary sẽ đi biên.
Như vậy, dù khá trừu tượng, song thời vẫn có vai trũ nhất định trong việc định vi một sự ténh trong thời gian. Tum lại: i nghĩa thời gian nói chung được phản anh vào trong ngôn ngữ (biểu hiện chủ yếu qua cỏc thực từ) là thuộc bỡnh diện từ vựng. Nu cú thể khụng bắt buộc phải diễn đạt khi không cần thiết. Cũn phạm trự thời thuộc bỡnh diện ngữ phỏp.
Nu bắt buộc phải diễn đạt ngay cả khi câu nói đó cú coc phương tiện khác biểu thị ý nghĩa thời gian. í nghĩa thời gian cú trong mọi ngụn ngữ. Cũn phạm trự thời chỉ ton tại trong một sỐ ngụn ngữ mà thui. Jakobson núi: Các ngôn ngữ khác nhau không phải ở chỗ ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được những ý nghĩa gỡ (vỡ ngụn ngữ nào cũng cú cóch diễn đạt bất cứ ý nghĩa gỡ mà một ngụn ngữ khỏc cú thể diễn đạt), mà là ở chỗ có những ngôn ngữ bị bắt buộc phải diễn đạt những ý nghĩa mà cỏc ngụn ngữ khỏc cú thé khụng diễn đạt khi không cần thiết (Dan theo Cao Xuân Hạo, [41, tr2]).
20 Vậy, nếu nói rằng một ngôn ngữ nào đó cú phạm trự thời thỡ cú nghĩa là ngun ngữ đó ngữ phỏp hoo cách diễn đạt ý nghĩa thời gian, nghĩa là nó trở thành bắt buộc ngay cả khi câu nói đó cú cỏc phương tiện khác dé diễn đạt ý nghĩa này. Từ quan điểm về phạm trù thời, đối chiếu với điều kiện để hỡnh thành một phạm tru ngữ phỏp núi chung, ta thấy sự tồn tại của phạm tru ngữ phỏp thời trong cóc ngụn ngữ An-Au là khỏ rừ ràng. Trong coc ngụn ngữ này, dự ý nghĩa thời gian cú cụ thể, hiển nhiờn tới mức nào đi chăng nữa thỡ động từ vẫn bắt buộc phải được chia ở những thời nhất định. Trong các ngôn ngữ này cũng có những động từ hoàn toàn không mang ý nghĩa từ vựng mà chỉ cú chức năng là một chỉ tố ngữ pháp, dùng dé đánh dấu thời và thé.
Vd: - She is running. (Cô ấy đang chạy) Động từ to be trong trường hợp trên chỉ có chức năng đánh dấu thời hiện tai, và cùng với đuôi - ing trong động từ to run, đánh dấu thê tiếp diễn. Tiếng Việt là một ngụn ngữ khụng biến hỡnh, động từ không chia theo thời như các ngôn ngữ An-Au. Tiéng Việt cũng không có những động từ riêng chuyên dùng dé đánh dấu thời như to be của tiếng Anh hay etre của tiếng Pháp.
Tuy nhiên, tiếng Việt vẫn có thê có thời, nếu như tiếng Việt thoả món cóc điều kiện để hỡnh thành một phạm tru ngữ phỏp như chúng tôi đó trỡnh bày ở tron.