Luận án tiến sĩ về thời thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt

Khám phá luận án tiến sĩ ngữ văn về thời thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt, phân tích sâu sắc và ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ ngữ văn

2005

223
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. THỜI GIAN VÀ CÁCH THỂ HIỆN THỜI GIAN TRONG NGÔN NGỮ

1.2. THỜI GIAN VÀ NHẬN THỨC VỀ THỜI GIAN

1.3. SỰ THỂ HIỆN THỜI GIAN TRONG NGÔN NGỮ

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỜI-THỂ TIẾNG VIỆT

3. CHƯƠNG 3: PHÓ TỪ ĐÃ VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG

3.1. PHÂN BIỆT ĐÃ CHỈ THỜI-THỂ VỚI CÁC TỪ ĐÃ ĐỒNG ÂM

3.2. NHỮNG KIẾN GIẢI VỀ TỪ ĐÃ

3.3. CÁCH SỬ DỤNG ĐÃ TRONG TIẾNG VIỆT

4. CHƯƠNG 4: PHÓ TỪ ĐANG VÀ ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG

4.1. PHÂN BIỆT PHÓ TỪ ĐANG VỚI CÁC TỪ ĐỒNG ÂM

4.2. NHỮNG KIẾN GIẢI KHÁC NHAU VỀ ĐANG

4.3. ĐANG BIỂU HIỆN CẢ Ý NGHĨA THỜI VÀ THỂ

4.4. CÁCH SỬ DỤNG PHÓ TỪ ĐANG

5. CHƯƠNG 5: PHÓ TỪ SẼ VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG

5.1. PHÂN BIỆT PHÓ TỪ SẼ VỚI CÁC TỪ ĐỒNG ÂM

5.2. NHỮNG KIẾN GIẢI KHÁC NHAU VỀ SẼ

5.3. XU HƯỚNG CÔNG NHẬN Ý NGHĨA TƯƠNG LAI CỦA SẼ

5.4. XU HƯỚNG PHỦ NHẬN Ý NGHĨA TƯƠNG LAI CỦA SẼ

5.5. VAI TRÒ ĐÁNH DẤU THỜI TƯƠNG LAI CỦA SẼ

5.6. CÁCH DỊCH THỜI TƯƠNG LAI TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT

5.7. VIỆC SỬ DỤNG SẼ TRONG TRƯỜNG HỢP NGỮ CẢNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ngữ văn Thời thể trong tiếng Việt

Nghiên cứu ngữ văn về thời thể trong tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh thời gian và thể hiện ý nghĩa của nó. Thời gian không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn là một phần thiết yếu trong giao tiếp hàng ngày. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ mà còn mở rộng hiểu biết về văn hóa và tư duy của người Việt.

1.1. Khái niệm thời gian và thể hiện trong ngữ văn

Thời gian trong ngữ văn được hiểu là cách mà ngôn ngữ thể hiện các khái niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai. Các phương tiện ngữ pháp như phó từ, động từ và cấu trúc câu đóng vai trò quan trọng trong việc biểu hiện thời gian.

1.2. Vai trò của thời thể trong ngữ pháp tiếng Việt

Thời thể không chỉ giúp xác định thời điểm của hành động mà còn ảnh hưởng đến cách hiểu và diễn đạt ý nghĩa trong giao tiếp. Việc nắm vững các quy tắc về thời thể sẽ giúp người học tiếng Việt giao tiếp hiệu quả hơn.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thời thể tiếng Việt

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thời thể trong tiếng Việt, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Sự khác biệt trong cách hiểu và sử dụng các phó từ chỉ thời gian gây ra nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu. Điều này đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc và hệ thống hơn về các phương tiện biểu hiện thời gian.

2.1. Những tranh cãi về phó từ chỉ thời gian

Các phó từ như 'đã', 'đang', 'sẽ' thường gây ra sự nhầm lẫn trong việc xác định thời điểm của hành động. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm khác nhau về cách sử dụng và ý nghĩa của chúng.

2.2. Khó khăn trong việc giảng dạy thời thể cho người học

Việc giảng dạy thời thể cho người học tiếng Việt, đặc biệt là người nước ngoài, gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp trong cách sử dụng các phó từ và cấu trúc câu. Cần có những tài liệu và phương pháp giảng dạy rõ ràng hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu thời thể trong tiếng Việt

Để nghiên cứu thời thể trong tiếng Việt, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại. Các phương pháp này bao gồm phân tích ngữ liệu, so sánh đối chiếu và khảo sát thực địa. Việc sử dụng đa dạng các phương pháp sẽ giúp làm rõ hơn các khía cạnh của thời thể.

3.1. Phân tích ngữ liệu từ văn bản

Phân tích ngữ liệu từ các văn bản tiếng Việt giúp xác định cách mà thời thể được sử dụng trong thực tế. Các văn bản này có thể bao gồm văn học, báo chí và giao tiếp hàng ngày.

3.2. So sánh với các ngôn ngữ khác

So sánh thời thể trong tiếng Việt với các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp sẽ giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra những kết luận có giá trị cho việc nghiên cứu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thời thể trong tiếng Việt

Nghiên cứu về thời thể không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và học tập tiếng Việt. Việc hiểu rõ về thời thể sẽ giúp người học sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và tự nhiên hơn.

4.1. Tăng cường khả năng giao tiếp

Nắm vững các quy tắc về thời thể sẽ giúp người học giao tiếp hiệu quả hơn, đặc biệt trong các tình huống giao tiếp hàng ngày.

4.2. Hỗ trợ trong việc biên soạn tài liệu giảng dạy

Nghiên cứu về thời thể cung cấp cơ sở lý luận cho việc biên soạn các tài liệu giảng dạy tiếng Việt, giúp người học dễ dàng tiếp cận và hiểu biết hơn về ngôn ngữ.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu thời thể trong tiếng Việt

Nghiên cứu về thời thể trong tiếng Việt vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Cần tiếp tục mở rộng các nghiên cứu để làm rõ hơn các khía cạnh của thời thể và ứng dụng của nó trong thực tiễn. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho cả lý thuyết và thực hành.

5.1. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về các phó từ chỉ thời gian và thể hiện của chúng trong các ngữ cảnh khác nhau, từ đó phát triển lý thuyết về thời thể trong tiếng Việt.

5.2. Tăng cường hợp tác nghiên cứu quốc tế

Hợp tác với các nhà nghiên cứu quốc tế sẽ giúp mở rộng tầm nhìn và nâng cao chất lượng nghiên cứu về thời thể trong tiếng Việt.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về nghĩa xuất phát (không được quy ước 16 bởi ngữ cảnh) và nghĩa phái sinh (quy ước bởi ngữ cảnh) của hỡnh thỏi ngữ phop này [83, tr128]. Toc gia cũng cho rằng: “Có thé phân xuất các nghĩa phái sinh từ nghĩa xuất phát dựa vào bất biến thể ngữ nghĩa được hiểu như thành tố ngữ nghĩa buộc phải có mặt trong bất kỳ trường hợp sử dụng nào của chỉ tố ngữ phỏp”. Về sự phân chia các thời, có lẽ Từ điển Asher (1994) [154, tr4559- 4560] là trỡnh bày cụ thé nhất. Nhỡn chung, sự phon chia này bắt nguồn từ quan niệm về sự quy chiếu và mối quan hệ giữa thời gian diễn ra tỡnh huống với điểm quy chiếu.

Những thời sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu được gọi là thời tuyệt đối. Có thê phân biệt ba thời tuyệt đối: Thời hiện tại tuyệt đối: E trùng với S (John 1s eating an apple) Thời quá khứ tuyệt đối: E đi trước S (John ate an apple) Thời tương lai tuyệt đối: E đi sauS (John will eat an apple) Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện (time of event), S là thời điểm phát ngôn (time of speech). Những thời không sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu được gọi là thời tương đối. Có thé phân biệt ba thời tương đối: (1a) Thời hiện tại trơng đối: — E trùng vớiR - Those singing were told to be quiet.

(Những người dang hát được yêu cẩu giữ yên lặng) (2a) Thời quo khứ tương đối: E đi trước R. Vd: - Those having sung were asked to leave the stage. (Những người đó hỏt duoc yêu cau rời sân khẩu) (3a) Thời tương lai tuong đối: EđisauR - Those about to sing were asked to go onto the stage. Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện (time of event), R là điểm quy chiếu (time of referent).

17 Các động từ đó chia trong những vớ dụ trờn cú thời điểm quy chiếu hoàn toàn là thuộc về quá khứ. Đề giải thích thời điểm quy chiếu đó được mó hoo bởi hỡnh thức phon từ qué khứ, phải tom thời điểm quy chiếu trong ngữ cảnh. Thời điểm quy chiếu trong (1a) là thời điểm mà người hát được yêu cầu yên lặng và quá khứ phân từ định vị hành động của người hót như là bao phủ thời điểm quy chiếu thời gian mà họ được yêu cầu yên lặng. Trong (2a), thời điểm quy chiếu là thời gian mà họ được yêu cầu rời sân khấu và phân từ định vị hành động của người hát là đi trước thời điểm quy chiếu.

Trong (3a), thời điểm quy chiếu là thời điểm họ được yêu cầu lên sân khẩu, và phân từ định vị hành động của người hát đi sau thời điểm quy chiếu này. Thay đổi thời của động từ được chia trong các ví dụ trên thỡ thời điểm quy chiếu của phân từ cũng sẽ thay đổi. Vd: (1b) Those singing will be told to be quiet. Những người dang hát sẽ yên lặng.

(2b) Those having sung will be asked to leave the stage. Những người đó hot sẽ được yêu cau rời sân khấu. (3b) Those about to sing will be asked to go onto the stage. Những người chuẩn bị hat sẽ được yêu cầu lên sân khấu.

Ở đây, toàn bộ thời điểm quy chiếu lại thuộc về tương lai. Không xa lạ với quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài, Nguyễn Minh Thuyết (1998) khang định: “Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói”. Khi phạm trù thời biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn, ta gọi đó là thời tuyệt đối. Cũn khi phạm trự thời biểu thị quan hệ giữa hành động với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói, ta gọi đó là thời tương đối [35, tr234-235].

Phạm trự thời và vị ngữ VỊ ngữ là coi lừi của cõu, là trọng tốm của mọi mối liờn hệ trong cou. Trong cóc ngụn ngữ An-Au, vị ngữ là do động từ dam nhiệm. Vỡ vậy, theo một ý nghĩa nhất định, “động từ cũng là câu, tất cả những gỡ ảnh hưởng đến động từ thỡ cũng ảnh hưởng đến câu nói chung” [W. 18 Động từ là cái thé hiện sự vận động, mà mọi vận động đều diễn ra trong thời gian.

Do vậy, thời có liên quan chặt chẽ đến động từ, hay nói chính xác hơn, nó thuộc về động từ. Trong tiếng Đức, động từ được coi là loại tv cu thoi và gọi là Zeitwort [Dẫn theo Nguyễn Kim Than, 103, tr174]. “Thời được thiết lập từ sự quy chiếu cái vận động, thé hiện bang động từ, với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nào đó được người nói đề cập tới trong phát ngôn” [33, tr306 ]. Có thé khang định rang, nếu như thời gian là thuộc tính cố hữu cua vật chat tho trong coc ngụn ngữ An-Au, thời (và thé) là thuộc tính cố hữu của động từ.

“Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, vị ngữ bao giờ cũng là động từ được chia ở những thời và thể nhất định. Và ngược lại, một động từ trong câu được chia ở những thời và thể nhất định thỡ chứng tỏ động từ ấy là vị ngữ” [126, tr45]. Trong tiếng Việt, vị ngữ có thể do động từ, tính từ hay danh từ đảm nhiệm. Tuy nhiên, số câu mà vị ngữ là động từ vẫn là cơ bản (chiếm vào khoảng 88%, theo thống kê của Nguyễn Kim Thản [103, tr9]).

Động từ tiếng Việt không biến hỡnh như các ngôn ngữ An-Au, cho nên nó cũng không chia theo thời như các ngôn ngữ An-Au. Song, nếu như tiếng Việt có phạm trù thời, chắc chắn phạm trù này cũng không thể tách rời với ý nghĩa của các động từ, dù không phải chỉ với riêng động từ. Nói cụ thể hơn, đối với tiếng Việt, không phải tính từ không có quan hệ với thời gian bởi tính từ không chỉ hoạt động. Chúng ta đều biết, một tính chất dù tĩnh đến may cũng không đứng im.

Vẫn có thé có các kết hợp: đó khoé, sẽ lớn, đỏ lắm rồi. Và vỡ vậy, nếu tiéng Việt cú phạm try thời thỡ cũng khụng cú lý do gỡ dé cho rằng đây chỉ là phạm trù của riêng từ loại động từ. Chỉ cần các từ ấy là yếu tô vị tính. Điểm này hoàn toàn khác với các ngôn ngữ An-Au.

Tớnh từ và danh từ trong coc ngụn ngữ An-Au khung cú phạm tru thời. Vai trũ của phạm trù thời trong cách xác định thời gian Sự giải thích đầy đủ về cấu trúc thời gian của một văn bản luôn đũi hỏi nhiều nguồn thụng tin khỏc nhau, mà trong đó phạm trù thời chỉ là một. Phạm trù thời đường như có vai trũ rất nhỏ trong việc thành lập cấu trúc thời gian 19 cho văn bản song lại là một phần quan trọng của bất kỳ sự đánh giá nào về mặt ngữ phỏp và loại hỡnh cua một ngụn ngữ. Núi coch khoc, thời, với tư cách là một phạm trù ngữ pháp, chi là một trong nhiều cách mà ngôn ngữ có thể truyền đạt những thông tin liên quan đến thời gian.

Dĩ nhiên, so với các phương tiện từ vung thé cóch truyền đạt này không thé phong phú bang. Và, quả thực, chang cú gỡ đáng ngạc nhiên khi bất kỳ ngôn ngữ nào cũng sử dụng phương tiện từ vựng để định vị thời gian nhiều hơn là dùng phương tiện ngữ pháp. Song, trong những trường hợp nhất định, thời có thé kết hợp với các phương tiện từ vung dé lam rừ coc ý nghĩa qua khứ, hiện tại, tương lai của sự kiện. V6 dụ: - On Tuesday, Mary went to the beach.

- On Tuesday, Mary will go to the beach. Chính cách chia động từ ở thời qua khứ (câu thứ nhất) va tương lai (câu thứ hai) đó giyp chỳng ta xỏc định rừ Tuesday là thứ ba tuần trước (đó qua) hay thứ ba tới (chưa đến). Vỡ vậy, hai cõu tron cú thé dich là: - Thtr ba vừa rồi, Mary (đó) đi bién. - Thứ ba nay, Mary sẽ đi biên.

Như vậy, dù khá trừu tượng, song thời vẫn có vai trũ nhất định trong việc định vi một sự ténh trong thời gian. Tum lại: i nghĩa thời gian nói chung được phản anh vào trong ngôn ngữ (biểu hiện chủ yếu qua cỏc thực từ) là thuộc bỡnh diện từ vựng. Nu cú thể khụng bắt buộc phải diễn đạt khi không cần thiết. Cũn phạm trự thời thuộc bỡnh diện ngữ phỏp.

Nu bắt buộc phải diễn đạt ngay cả khi câu nói đó cú coc phương tiện khác biểu thị ý nghĩa thời gian. í nghĩa thời gian cú trong mọi ngụn ngữ. Cũn phạm trự thời chỉ ton tại trong một sỐ ngụn ngữ mà thui. Jakobson núi: Các ngôn ngữ khác nhau không phải ở chỗ ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được những ý nghĩa gỡ (vỡ ngụn ngữ nào cũng cú cóch diễn đạt bất cứ ý nghĩa gỡ mà một ngụn ngữ khỏc cú thể diễn đạt), mà là ở chỗ có những ngôn ngữ bị bắt buộc phải diễn đạt những ý nghĩa mà cỏc ngụn ngữ khỏc cú thé khụng diễn đạt khi không cần thiết (Dan theo Cao Xuân Hạo, [41, tr2]).

20 Vậy, nếu nói rằng một ngôn ngữ nào đó cú phạm trự thời thỡ cú nghĩa là ngun ngữ đó ngữ phỏp hoo cách diễn đạt ý nghĩa thời gian, nghĩa là nó trở thành bắt buộc ngay cả khi câu nói đó cú cỏc phương tiện khác dé diễn đạt ý nghĩa này. Từ quan điểm về phạm trù thời, đối chiếu với điều kiện để hỡnh thành một phạm tru ngữ phỏp núi chung, ta thấy sự tồn tại của phạm tru ngữ phỏp thời trong cóc ngụn ngữ An-Au là khỏ rừ ràng. Trong coc ngụn ngữ này, dự ý nghĩa thời gian cú cụ thể, hiển nhiờn tới mức nào đi chăng nữa thỡ động từ vẫn bắt buộc phải được chia ở những thời nhất định. Trong các ngôn ngữ này cũng có những động từ hoàn toàn không mang ý nghĩa từ vựng mà chỉ cú chức năng là một chỉ tố ngữ pháp, dùng dé đánh dấu thời và thé.

Vd: - She is running. (Cô ấy đang chạy) Động từ to be trong trường hợp trên chỉ có chức năng đánh dấu thời hiện tai, và cùng với đuôi - ing trong động từ to run, đánh dấu thê tiếp diễn. Tiếng Việt là một ngụn ngữ khụng biến hỡnh, động từ không chia theo thời như các ngôn ngữ An-Au. Tiéng Việt cũng không có những động từ riêng chuyên dùng dé đánh dấu thời như to be của tiếng Anh hay etre của tiếng Pháp.

Tuy nhiên, tiếng Việt vẫn có thê có thời, nếu như tiếng Việt thoả món cóc điều kiện để hỡnh thành một phạm tru ngữ phỏp như chúng tôi đó trỡnh bày ở tron.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ngữ văn: Thời thể và biểu hiện trong tiếng Việt" khám phá các khía cạnh ngữ pháp và ngữ nghĩa liên quan đến thời gian và cách thức biểu hiện trong tiếng Việt. Tác giả phân tích sự ảnh hưởng của thời thể đến cấu trúc câu và cách mà người nói sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt ý nghĩa một cách chính xác và hiệu quả. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngữ pháp tiếng Việt mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp trong ngôn ngữ này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về ngữ văn và ngôn ngữ học, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận án phó tiến sĩ ngữ văn các phát ngôn đơn phần tiếng việt, nơi bạn sẽ tìm thấy những nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc phát ngôn trong tiếng Việt. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ khoa học ngôn ngữ cấu trúc và ngữ nghĩa của câu hỏi câu nghi vấn tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách đặt câu hỏi và ý nghĩa của chúng trong giao tiếp. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Đặc điểm ngữ pháp ngữ nghĩa của câu tồn tại tiếng việt, một tài liệu thú vị về cấu trúc câu trong tiếng Việt. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ và cách thức sử dụng nó trong giao tiếp hàng ngày.