Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Cảnh Hoa thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2001), chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 5 04 08), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Minh Thuyết và PGS. Trần Hữu Mạnh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh Việt Nam mở rộng hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa quốc tế, nhu cầu học tiếng Anh của người Việt Nam cũng như nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài không ngừng gia tăng. Cùng với đó, số lượng ấn phẩm sách báo tiếng Anh nhập vào Việt Nam và xuất bản phẩm tiếng Việt phát hành ra nước ngoài đạt quy mô ngày càng lớn. Tuy nhiên, giới từ luôn là một trong những mảng kiến thức phức tạp, gây nhiều trở ngại cho người học và người làm công tác biên phiên dịch của cả hai ngôn ngữ.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: tính đến thời điểm luận án được triển khai, trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học chưa có công trình chuyên khảo nào tiến hành đối chiếu một cách hoàn chỉnh, toàn diện về đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu giới từ tiếng Anh với giới từ tiếng Việt vừa đáp ứng đòi hỏi cấp bách của thực tiễn giao tiếp, dịch thuật và giảng dạy, vừa là một yêu cầu nội tại của lý luận ngôn ngữ học đối chiếu.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là đi sâu vào bản chất ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh trên cơ sở đối chiếu với giới từ tiếng Việt, từ đó xác lập các điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ. Luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Đi sâu nghiên cứu bản chất ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh trên cơ sở đối chiếu với giới từ tiếng Việt.
  2. Nêu lên những đặc điểm tương đồng và dị biệt về ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ giữa hai ngôn ngữ.
  3. Quan tâm xem xét vấn đề dịch các giới từ và giới ngữ xuất hiện trong câu và trong văn bản.
  4. Phân tích những khó khăn và lỗi mà người Việt Nam thường gặp và thường mắc phải khi học và sử dụng giới từ tiếng Anh, hướng tới việc giúp người học sử dụng giới từ đúng quy tắc và phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Giới từ tiếng Anh và giới từ tiếng Việt, bao gồm các giới từ đơn, các mô hình kết hợp tạo thành giới từ kép và các cụm giới từ (giới ngữ). Luận án xác định tiếng Anh là ngôn ngữ xuất phát và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát, đối chiếu các đặc điểm cơ bản nhất của giới từ trên hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa, không tham vọng giải quyết toàn bộ mọi hiện tượng ngôn ngữ cá biệt.
  • Phạm vi không gian và thời gian của tư liệu: Ngữ liệu nghiên cứu được trích dẫn chủ yếu từ nguyên bản và bản dịch của các tác phẩm văn học, chính trị, báo chí tiếng Anh và tiếng Việt xuất bản từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2001), kết hợp với các ví dụ thu thập trong khẩu ngữ hàng ngày và hệ thống từ điển chuyên ngành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được tác giả điểm lại

Tác giả hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu từ loại và giới từ qua các giai đoạn và các khu vực nghiên cứu chính:

Khu vực / Trường phái Tác giả, công trình tiêu biểu Đóng góp và quan điểm chính được điểm lại trong văn bản
Ngôn ngữ học cổ đại Hy Lạp – La Mã Protagonas (thế kỷ V tr.CN), Platon (429–347 tr.CN), Aristotle (384–322 tr.CN), Trường phái Stoic, Dionysius Thrax (cuối thế kỷ II tr.CN, trường phái Alexandria) Phân biệt từ loại từ sơ khởi; Aristotle phân định từ nối (gồm liên từ và giới từ) và nêu khái niệm từ có nghĩa / không có nghĩa (thực từ – hư từ); Dionysius Thrax đưa ra bảng miêu tả ngữ pháp bao quát đầu tiên ở phương Tây gồm 8 từ loại, định nghĩa giới từ là từ phụ đứng trước các từ khác.
Trường phái ngữ pháp truyền thống Nga / Liên Xô cũ M. Lomonoxov (thế kỷ XVIII), L. Scerba, V. Vinogradov (thế kỷ XX) Duy trì nghiên cứu hệ thống từ loại qua thời gian dài trong ngữ pháp truyền thống.
Ngôn ngữ học tiếng Anh hiện đại J. Lyons (Introduction to theoretical linguistics), H. Gleason, J. B. Heaton (Prepositions and adverbial particles), W. Stannard Allen (Living English Structure), Penelope Choy và James McCormick (Basic Grammar and Usage), A. S. Hornby, R. Quirk, S. Greenbaum, G. Leech, J. Svartvik (A comprehensive grammar of the English language, 1985), M. A. K. Halliday (An Introduction to Functional Grammar), R. Huddleston (Introduction to the Grammar of English), Collins Cobuild (Prepositions), Trường phái Ngữ pháp tri nhận (Cognitive Grammar: Langacker, M. Celce-Murcia, D. Larsen Freeman) J. Lyons xác lập hai chức năng độc lập nhưng gắn kết là "ngữ pháp" và "định vị"; R. Quirk và nhóm tác giả phân loại giới từ đơn, giới từ kép và phân nhóm ngữ nghĩa công phu; M. A. K. Halliday tiếp cận theo ngữ pháp chức năng hệ thống, xem giới từ là từ nối hoạt động ở cấp độ từ vựng – ngữ pháp và văn bản; R. Huddleston nghiên cứu cơ chế kết hợp và phân biệt giới từ với liên từ, động từ; Ngữ pháp tri nhận chỉ ra sau giới từ không bắt buộc phải có bổ ngữ trong mọi ngữ cảnh.
Nghiên cứu Việt ngữ học A. de Rhodes, Grammont và Lê Quang Trình, Trần Trọng Kim và các đồng tác giả (Việt Nam văn phạm), Bùi Đức Tịnh (Văn phạm Việt Nam), Phan Khôi, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Đinh Thanh Huệ, Đinh Văn Đức, Lê Biên, Nguyễn Anh Quế, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Minh Thuyết, Diệp Quang Ban, Hữu Quỳnh, Vũ Văn Thi, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Ly, Nguyễn Lai, Dương Thanh Bình, Đỗ Hữu Châu Tồn tại quan điểm phủ nhận từ loại và giới từ tiếng Việt (Grammont và Lê Quang Trình); các nhà Việt ngữ học khẳng định giới từ tồn tại dưới các tên gọi: quan hệ từ, kết từ chính phụ, hư từ cú pháp, liên - giới từ; Cao Xuân Hạo khẳng định vị thế trung tâm ngữ đoạn của giới từ trong giới ngữ; Nguyễn Minh Thuyết xếp giới từ vào hư từ chân chính; Vũ Văn Thi xác định giới từ là hư từ chỉ quan hệ cú pháp chính phụ; các công trình phân biệt giới từ với từ chỉ hướng vận động.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc miêu tả giới từ trong nội bộ từng ngôn ngữ riêng lẻ hoặc chỉ đề cập phân tán giới từ như một tiểu loại hư từ trong các giáo trình ngữ pháp đại cương. Một số ít công trình chuyên biệt chưa đặt hệ thống giới từ tiếng Anh trong thế đối chiếu trực tiếp và toàn diện với tiếng Việt. Luận án của Nguyễn Cảnh Hoa giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát đồng bộ giới từ trên cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa, đồng thời gắn kết quả đối chiếu lý thuyết với thực tiễn phân tích lỗi ngôn ngữ của người Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết tiếp cận: Luận án vận dụng mô hình ngữ pháp chức năng hệ thống (functional-systemic model) của M. A. K. Halliday để nhìn nhận giới từ trong mối quan hệ đa tầng bậc: ngữ cảnh (context), ngữ nghĩa (semantics), từ vựng – ngữ pháp (lexico-grammar) và văn bản (text). Bên cạnh đó, luận án tiếp thu quan điểm của ngữ pháp tri nhận (Cognitive Grammar) về tính linh hoạt của cấu trúc giới ngữ và lý thuyết phân tích diễn ngôn (discourse analysis).
  • Khái niệm giới từ tiếng Anh: Luận án tổng hợp quan điểm của R. Quirk, S. Greenbaum, G. Leech, J. Svartvik và R. Huddleston, xác định giới từ là từ chức năng biểu thị mối quan hệ giữa hai thực thể, thường đứng trước danh từ hoặc đại từ (bổ ngữ giới từ) để lập thành cụm giới từ đóng vai trò trạng ngữ hoặc định ngữ.
  • Khái niệm giới từ tiếng Việt: Tác giả lựa chọn định nghĩa của Vũ Văn Thi làm căn cứ: Giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ, có chức năng thể hiện mối quan hệ cú pháp chính phụ giữa thành phần chính và thành phần phụ trong câu; nối trung tâm với thành phần phụ; có khả năng dạng thức hóa từ, cụm từ tạo nên các giới ngữ để giữ chức vị cú pháp là thành phần phụ; vị trí phổ biến nhất là đứng giữa thành phần chính và thành phần phụ.

Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật xử lý tư liệu

Phương pháp / Kỹ thuật Nội dung thực hiện cụ thể trong luận án
Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ Lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ xuất phát để đối chiếu với tiếng Việt; so sánh cấu trúc, vị trí, khả năng kết hợp và trường nghĩa nhằm xác lập các tương đồng và dị biệt.
Phương pháp phân tích diễn ngôn Xuất phát từ sự hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế để khảo sát giới từ với tư cách là phương tiện liên kết văn bản (cohesive devices).
Thủ pháp biến đổi cú pháp Áp dụng các thủ pháp thay thế (substitution), tỉnh lược (ellipsis), cải biến (transformation) như chuyển đổi bị động, thay thế đại từ nhân xưng, đảo trật tự thành phần câu để phân biệt ranh giới giữa giới từ với tiểu trạng từ (tiếng Anh) và từ chỉ hướng vận động (tiếng Việt).
Kỹ thuật thống kê, hệ thống hóa Thu thập, phân loại, lập danh sách toàn diện giới từ đơn, giới từ kép và mô hình hóa các kết hợp cú pháp của giới từ trong cả hai ngôn ngữ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Trích dẫn nguyên bản và bản dịch của các tác phẩm văn học Anh – Mỹ và Việt Nam (tiêu biểu như tác phẩm của Bernard Shaw, Ernest Hemingway, Tô Hoài...).
  2. Văn bản chính luận, tài liệu ngoại giao và báo chí đương đại (báo Nhân Dân, báo Hà Nội Mới, bản tin Việt Nam Thông tấn xã – TTXVN, Reuters...).
  3. Ngữ liệu khẩu ngữ trong hoạt động giao tiếp hàng ngày.
  4. Hệ thống từ điển: Từ điển đối chiếu song ngữ Anh – Việt, Việt – Anh; từ điển tường giải tiếng Anh (Oxford, Collins Cobuild); từ điển tường giải tiếng Việt, từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, từ điển từ công cụ tiếng Việt và từ điển giải thích hư từ tiếng Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Phần Mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, tính thời sự, tính mới và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của công trình. Đồng thời, tác giả xác định mục đích, đối tượng, phương pháp luận, nguồn ngữ liệu, phạm vi nghiên cứu và thiết kế cấu trúc tổng thể gồm bốn chương của luận án.

Chương 1: Khái niệm giới từ

Chương 1 dành trọn dung lượng để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về giới từ trong ngôn ngữ học đại cương và miêu tả độc lập giới từ trong tiếng Anh hiện đại cùng giới từ trong tiếng Việt hiện đại.

  • Vấn đề giới từ trong lý luận ngôn ngữ học: Lược sử nghiên cứu từ loại từ thời Hy Lạp cổ đại đến thế kỷ XX, chỉ ra sự chuyển dịch từ việc gộp chung từ loại dựa trên logic học sang việc phân tách rành mạch các từ loại độc lập dựa trên đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa.
  • Giới từ trong tiếng Anh hiện đại:
    • Đặc điểm hình thức và ý nghĩa: Giới từ không độc lập làm thành phần câu mà liên kết các thành phần; thường đứng trước danh từ/đại từ tạo thành giới ngữ làm trạng ngữ hoặc định ngữ; không có chức năng định danh sự vật mà biểu thị quan hệ ngữ pháp chính phụ.
    • Phân biệt giới từ với tiểu trạng từ (adverbial particle): Tiểu trạng từ cùng dạng nhưng khác chức năng với giới từ, đóng vai trò bổ nghĩa trực tiếp cho động từ và có thể đứng độc lập không cần danh từ theo sau. Tác giả chỉ ra các tiêu chí phân biệt động từ liên kết (phrasal verb) và động từ ghép (prepositional verb):
      • Khả năng chen tân ngữ trực tiếp: Động từ liên kết cho phép đặt danh từ/tân ngữ ở giữa động từ và tiểu từ (The pilot flew the plane in), trong khi động từ ghép chỉ cho phép danh từ đứng sau giới từ (The passengers flew in the plane).
      • Dạng thức thay thế bằng đại từ: Động từ liên kết buộc đại từ đứng trước tiểu từ (flew it in), động từ ghép buộc đại từ đứng sau giới từ (flew in it).
      • Khả năng đảo vị trí cụm từ lên đầu câu làm trạng ngữ: Cụm giới từ có thể chuyển lên đầu câu (In the plane the passengers flew), còn cấu trúc chứa tiểu từ thì không thể (*In the plane the pilot flew).
    • Phân biệt giới từ với liên từ (conjunction): Liên từ đẳng lập (but, for, still...) nối các thành phần bình đẳng, có thể hoán đổi; liên từ phụ thuộc (after, as, before, since, till, until...) nối mệnh đề phụ với mệnh đề chính trong câu phức biểu thị quan hệ thời gian, nhân quả, không đảm nhiệm chức năng mở rộng ngữ đoạn như giới từ.
  • Giới từ trong tiếng Việt hiện đại:
    • Đặc điểm ngữ pháp: Giới từ tiếng Việt là hư từ cú pháp thuộc nhóm quan hệ từ, không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không thể đơn độc đảm nhiệm vị trí chủ ngữ hay vị ngữ mà đóng vai trò liên kết thành phần phụ vào thành phần chính.
    • Phân biệt với liên từ: Giới từ biểu thị quan hệ chính phụ và có xu hướng gắn chặt với thành phần phụ; liên từ giữ vai trò liên kết đẳng lập giữa các thành phần hoặc mệnh đề, không có chức năng giúp đoản ngữ mở rộng thành phần câu đơn như giới từ.
    • Phân biệt với từ chỉ hướng vận động (ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, tới, đến): Tác giả tổng hợp các quan điểm của Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Ly, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Lai, Dương Thanh Bình, Nguyễn Tài Cẩn. Tác giả phân tích bốn khả năng phân bố khi từ chỉ hướng kết hợp với động từ và danh từ, đồng thời bổ sung một phát hiện quan trọng: nhóm từ chỉ hướng khi đứng sau tính từ biểu thị hướng biến đổi của trạng thái, cảm xúc:
      • Hướng tích cực, phát triển tốt hơn: kết hợp với ra, lên (béo ra, đẹp lên, tươi lên, khỏe ra).
      • Hướng tiêu cực, suy giảm, xấu đi: kết hợp với đi (nghèo đi, xấu đi, gầy đi, già đi).
      • Hướng trung tính: kết hợp với lại (nhỏ lại, tối sầm lại, đông lại, hẹp lại).
    • Phân loại ba kiểu kết hợp của từ chỉ hướng: đứng sau động từ vận động (chạy về nhà, bay lên trời); đứng sau động từ có bổ ngữ trực tiếp (mang củi ra sân, treo áo vào tủ); đứng sau động từ cảm nghĩ, nói năng (tin vào chính nghĩa, bàn về chính trị).

Chương 2: Đối chiếu giới từ tiếng Anh với giới từ tiếng Việt về đặc điểm ngữ pháp

Chương 2 triển khai đối chiếu song song giới từ của hai ngôn ngữ trên bốn bình diện cấu trúc ngữ pháp:

  • Đối chiếu về chức năng ngữ pháp: Xác lập các điểm tương đồng khi giới từ của cả hai ngôn ngữ đều đóng vai trò liên kết thành phần phụ với thành phần chính, tham gia cấu tạo giới ngữ đảm nhiệm các chức năng trạng ngữ, định ngữ hoặc bổ ngữ trong câu. Chỉ ra các nét dị biệt bắt nguồn từ tính chất loại hình: tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình (còn dấu vết biến cách ở đại từ nhân xưng đi sau giới từ), trong khi tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập không biến hình.
  • Đối chiếu về hoạt động trong lời nói: Khảo sát tần suất xuất hiện, khả năng tham gia vào cấu trúc đoản ngữ, hiện tượng tỉnh lược giới từ trong khẩu ngữ và vai trò duy trì tính mạch lạc trong văn bản.
  • Đối chiếu về vị trí của giới từ trong câu: Trong tiếng Việt, giới từ hầu như chiếm vị trí cố định trước danh từ hoặc ngữ danh từ. Trong tiếng Anh, bên cạnh vị trí đứng trước từ chi phối, giới từ còn có khả năng tách rời khỏi bổ ngữ để đứng ở cuối câu (preposition stranding) trong các cấu trúc đặc thù như câu hỏi, mệnh đề quan hệ và câu bị động.
  • Đối chiếu về cấu tạo: Khảo sát và phân loại toàn bộ hệ thống hình thức của giới từ:
    • Tiếng Anh: Phân loại chi tiết giới từ đơn (các giới từ một hình vị) và giới từ kép/giới từ phức hợp (các kết hợp đa hình vị như into, throughout, các tổ hợp hai từ hoặc ba từ: giới từ + danh từ + giới từ, giới từ + trạng từ + giới từ).
    • Tiếng Việt: Khảo sát giới từ đơn (như của, bằng, cho, do, vì, tại, ở, với, để...) và các cấu trúc giới từ kép được hình thành từ sự kết hợp của giới từ với giới từ hoặc giới từ với danh từ chỉ vị trí/phương hướng.

Chương 3: Đối chiếu giới từ tiếng Anh với giới từ tiếng Việt về đặc điểm ngữ nghĩa

Chương 3 đi sâu đối chiếu phạm vi biểu thị ngữ nghĩa của hệ thống giới từ giữa hai ngôn ngữ thông qua các nhóm nghĩa cụ thể:

  • Giới từ chỉ địa điểm: Phân tích sự định vị không gian tĩnh (điểm, bề mặt, bên trong: at, on, in đối chiếu với ở, tại, trên, trong) và không gian động/phương hướng di chuyển (to, into, from, through đối chiếu với đến, tới, vào, từ, qua).
  • Giới từ chỉ thời gian: Phân loại các giới từ xác định thời điểm cụ thể (at, on, in), khoảng thời gian kéo dài (for, during), mốc bắt đầu (since, from), mốc kết thúc (to, till, until) và mối quan hệ trước – sau (before, after) đối chiếu với các phương tiện tương đương trong tiếng Việt (vào, lúc, trong, từ, đến, trước, sau).
  • Giới từ chỉ nguyên nhân: Đối chiếu các phương tiện biểu thị nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, nguyên nhân khách quan và chủ quan (because of, due to, owing to, on account of đối chiếu với vì, do, bởi, nhờ, tại).
  • Giới từ chỉ mục đích: Các cấu trúc chỉ mục đích hành động, đích hướng tới (for, for the sake of đối chiếu với để, cho, nhằm).
  • Các nhóm giới từ chuyên biệt khác:
    • Giới từ chỉ cách thức (by, in, with – bằng, theo).
    • Giới từ chỉ công cụ và phương tiện (with, by means of – bằng, với).
    • Giới từ chỉ sự kích thích và phản ứng.
    • Giới từ chỉ sự ủng hộ (for) và phản đối (against – chống lại).
    • Giới từ chỉ sự nhượng bộ (despite, in spite of – mặc dù, bất chấp).
    • Giới từ chỉ sự quy chiếu (concerning, regarding – về, đối với).
    • Giới từ chỉ ngoại lệ (except, apart from – trừ, ngoại trừ).
    • Giới từ chỉ chủ đề (about, on – về).
    • Giới từ chỉ thành phần cấu tạo (of, from – bằng, từ).

Chương 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc phân tích lỗi của người Việt Nam khi học giới từ tiếng Anh

Chương 4 là phần nghiên cứu ứng dụng, phân loại và kiến giải nguyên nhân các lỗi thực tế mà người Việt Nam mắc phải khi tiếp nhận và sản sinh giới từ tiếng Anh:

  • Các lỗi về cấu trúc:
    • Nói hoặc viết thiếu/thừa giới từ: Thừa giới từ do suy diễn từ cấu trúc tiếng Việt (ví dụ dùng sai giới từ sau các ngoại động từ như mention, discuss, reach); hoặc thiếu giới từ đi kèm động từ bắt buộc phải có giới từ trong tiếng Anh.
    • Sắp xếp sai vị trí của giới từ: Đặt sai trật tự giới từ trong các cấu trúc câu phức, câu hỏi hoặc mệnh đề có giới từ đứng cuối.
    • Dùng sai dạng thức của đại từ nhân xưng sau giới từ: Không chuyển đại từ nhân xưng sang dạng thức tân ngữ (objective case) do thói quen không biến hình của tiếng Việt.
    • Sử dụng không phân biệt giới từ đơn và giới từ kép: Nhầm lẫn chức năng và ngữ cảnh sử dụng giữa các giới từ đơn lẻ và tổ hợp giới từ phức tạp.
  • Các lỗi về nghĩa:
    • Chọn không đúng giới từ cần dùng: Xuất phát từ hiện tượng chuyển di tiêu cực (negative transfer) của tiếng mẹ đẻ, đồng nhất một giới từ tiếng Việt với một giới từ tiếng Anh cố định (ví dụ dịch từ "ở" luôn thành in, hoặc "với" luôn thành with mà không chú ý đến sự kết hợp từ vựng chuyên biệt).
    • Dịch sai nghĩa của giới từ: Không nắm bắt được các nét nghĩa phái sinh, nghĩa trừu tượng và nghĩa thành ngữ của giới từ trong văn cảnh cụ thể.
  • Các lỗi về tu từ: Sử dụng giới từ lặp thừa, kết hợp phong cách học không tương thích giữa khẩu ngữ và văn viết trang trọng, phá vỡ tính liên kết và tính tự nhiên của diễn ngôn tiếng Anh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Đây là công trình đầu tiên tiến hành đối chiếu một cách tương đối toàn diện và đầy đủ các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh với giới từ tiếng Việt.
  2. Luận án đã thống kê, phân loại có hệ thống các giới từ đơn, các mô hình kết hợp tạo thành giới từ kép và cụm giới từ (prepositional phrases) trong cả hai ngôn ngữ.
  3. Vận dụng hiệu quả lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống và phân tích diễn ngôn để mở rộng tầm nhìn về giới từ: chứng minh giới từ không chỉ là công cụ nối kết ngữ pháp ở cấp độ ngữ đoạn và câu đơn, mà còn đóng vai trò là phương tiện liên kết văn bản (cohesive devices) ở cấu trúc trên câu.
  4. Xác lập các tiêu chí cú pháp khách quan (thông qua các thủ pháp thay thế, tỉnh lược, cải biến) để phân biệt dứt khoát giới từ với tiểu trạng từ trong tiếng Anh, cũng như phân định ranh giới giữa giới từ với nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Trong giảng dạy và biên soạn giáo trình: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở ngôn ngữ học tin cậy để biên soạn các chương mục về giới từ trong giáo trình tiếng Anh cho người Việt Nam và giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài.
  • Trong công tác dịch thuật: Luận án cung cấp các đối đồ ngữ nghĩa và ngữ pháp cụ thể, góp phần xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc xử lý chuyển ngữ giới từ và giới ngữ trong dịch thuật song phương Anh – Việt và Việt – Anh.
  • Trong phòng ngừa và khắc phục lỗi: Hệ thống phân loại lỗi cấu trúc, lỗi ngữ nghĩa và lỗi tu từ tại Chương 4 giúp người học nhận thức rõ các cạm bẫy giao thoa ngôn ngữ, từ đó nâng cao tính chuẩn xác trong giao tiếp bằng tiếng Anh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Do là công trình đầu tiên đối chiếu giới từ Anh – Việt một cách quy mô, luận án tự giới hạn phạm vi khảo sát ở các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa cơ bản nhất của giới từ, chưa đi sâu giải quyết triệt để mọi trường hợp kết hợp thành ngữ hóa đặc thù.
    • Nguồn ngữ liệu khảo sát tuy đa dạng nhưng mới chỉ tập trung vào các ấn phẩm văn học, chính trị, báo chí từ đầu thế kỷ XX đến năm 2001 và ngữ liệu khẩu ngữ, chưa bao quát ngữ liệu từ các văn bản chuyên ngành kỹ thuật sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát hoạt động của giới từ trong các phong cách chức năng chuyên biệt khác như văn bản pháp lý, hành chính và khoa học kỹ thuật.
    • Khai thác các kho ngữ liệu điện tử quy mô lớn (corpus linguistics) để định lượng chính xác hơn tần suất xuất hiện và các mô hình kết hợp từ vựng (collocations) chứa giới từ giữa hai ngôn ngữ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành ngôn ngữ học: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, ngữ pháp chức năng và lý thuyết từ loại.
  • Biên dịch viên và phiên dịch viên: Là tài liệu tra cứu hữu ích về sự tương đương ngữ nghĩa, các chuyển biến ngữ pháp và giải pháp chuyển dịch giới từ/giới ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Giáo viên dạy tiếng Anh và người học tiếng Anh tại Việt Nam: Phần phân loại lỗi và nguyên nhân tại Chương 4 là tài liệu trực tiếp phục vụ việc thiết kế bài tập, chỉnh sửa lỗi ngữ pháp và nâng cao kỹ năng diễn đạt học thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án căn cứ vào các tiêu chí ngữ pháp nào để phân biệt động từ liên kết (phrasal verb) và động từ ghép (prepositional verb) trong tiếng Anh?

Tác giả chỉ ra sự khác biệt căn bản nằm ở tính chất của tiểu từ đi kèm: tiểu trạng từ trong động từ liên kết có thể đứng một mình không cần danh từ, còn giới từ trong động từ ghép bắt buộc phải có danh từ/đại từ theo sau. Khi kiểm chứng bằng các thao tác cải biến:

  • Tân ngữ trực tiếp của động từ liên kết có thể chen vào giữa động từ và tiểu từ (The pilot flew the plane in), còn động từ ghép không thể đổi vị trí danh từ lên trước giới từ.
  • Khi thay thế tân ngữ bằng đại từ nhân xưng, đại từ phải đứng trước tiểu trạng từ (flew it in), nhưng bắt buộc phải đứng sau giới từ (flew in it).
  • Cụm giới từ của động từ ghép có thể đảo lên đầu câu làm trạng ngữ (In the plane the passengers flew), trong khi cấu trúc của động từ liên kết không thể chuyển đổi như vậy.

2. Tác giả phân biệt giới từ tiếng Việt với nhóm từ chỉ hướng vận động dựa trên những luận cứ nào?

Luận án khẳng định giới từ tiếng Việt không bao giờ đứng độc lập sau động từ mà bắt buộc phải có thể từ đi kèm phía sau. Ngược lại, các từ chỉ hướng vận động (ra, vào, lên, xuống...) có thể đứng độc lập không cần bổ ngữ danh từ. Khi đi sau động từ có bổ ngữ danh từ chỉ địa điểm/nơi chốn (đi ra vườn, vứt xe ngoài vỉa hè), từ chỉ hướng đảm nhiệm vai trò của giới từ. Ngoài ra, tác giả chứng minh từ chỉ hướng còn có khả năng kết hợp đặc thù sau tính từ để biểu thị chiều hướng biến đổi của trạng thái (hướng tích cực với ra/lên, hướng tiêu cực với đi, hướng trung tính với lại).

3. Hệ thống lỗi của người Việt Nam khi học và sử dụng giới từ tiếng Anh được phân thành những nhóm cụ thể nào?

Tác giả phân chia lỗi thành ba nhóm lớn:

  1. Lỗi về cấu trúc: Nói/viết thừa hoặc thiếu giới từ; sắp xếp sai vị trí giới từ trong câu; dùng sai dạng thức tân ngữ của đại từ nhân xưng sau giới từ; nhầm lẫn giữa giới từ đơn và giới từ kép.
  2. Lỗi về nghĩa: Chọn sai giới từ do thói quen chuyển di nghĩa một - đối - một từ tiếng Việt; dịch sai nghĩa phái sinh hoặc nghĩa thành ngữ của giới từ tiếng Anh.
  3. Lỗi về tu từ: Dùng lặp từ, dùng giới từ không phù hợp với văn phong và ngữ cảnh giao tiếp.

4. Giới từ được nhìn nhận như thế nào ở cấp độ trên câu theo quan điểm của luận án?

Tiếp thu mô hình ngữ pháp chức năng hệ thống của M. A. K. Halliday và lý thuyết phân tích diễn ngôn, tác giả khẳng định giới từ không chỉ là công cụ ngữ pháp liên kết nội bộ trong ngữ đoạn hay câu đơn, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng các mối liên kết ngữ nghĩa tầng bậc giữa các câu, tham gia vào cấu trúc liên kết văn bản (cohesive devices) nhằm bảo đảm tính mạch lạc của toàn bộ diễn ngôn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Cảnh Hoa là một công trình ngôn ngữ học đối chiếu có hệ thống, làm sáng tỏ bản chất ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ giữa hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết từ ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp chức năng đến phân tích diễn ngôn, công trình đã phân lập rành mạch ranh giới từ loại của giới từ, phân loại cấu tạo đơn – kép và đối chiếu toàn diện các trường nghĩa điển hình. Bên cạnh giá trị lý luận về phân loại hư từ, luận án mang tính ứng dụng thực tiễn cao khi nhận diện và phân tích thấu đáo các nhóm lỗi ngôn ngữ của người học Việt Nam, đóng góp thiết thực cho công tác giảng dạy tiếng Anh, giảng dạy tiếng Việt và hoạt động biên phiên dịch song ngữ.