Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát về từ và nghĩa của từ 1. Khái quát về từ 1. Khái niệm từ Mặc dù hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng nhận diện và định nghĩa từ thì không dễ.
Bởi từ trong các ngôn ngữ khác nhau có thể khác nhau về cách định hình, về chức năng và đặc điểm ý nghĩa. Thậm chí trong một ngôn ngữ, cũng có những điểm không thống nhất giữa các bộ phận từ. Có rất nhiều định nghĩa về từ nói chung của mọi ngôn ngữ trên thế giới cũng như về từ tiếng Việt, từ tiếng Lào. Ở đây, chúng tôi chỉ xin chọn ra những định nghĩa mà chúng tôi cho rằng có tính tiêu biểu.
Định nghĩa có phổ quát về từ là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [dẫn theo 17, tr. Định nghĩa này giúp phân biệt từ với đơn vị nhỏ hơn nó - hình vị - ở tính độc lập, và đơn vị lớn hơn nó là câu - ở chỗ chưa phải là đơn vị thông báo. Về từ tiếng Việt, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc trưng ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt1 và nhỏ nhất để tạo câu” [24, tr. Định nghĩa này giúp chỉ rõ những gì thuộc về bản thân từ: một đơn vị có phương diện hình thức (gồm các thành phần: ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo); phương diện nội dung (ý nghĩa); có vị trí nhất định trong tiếng Việt và có chức năng tạo câu.
Từ tiếng Lào thì được định nghĩa là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [43, tr. Đặc điểm của từ Theo các nhà nghiên cứu đi trước, từ nói chung có một số đặc điểm chính như sau1: - Về sự tồn tại: từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ; là đơn vị dùng chung, sở hữu chung trong cùng một cộng đồng ngôn ngữ; - Về cấu tạo: từ được tạo thành bởi một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến; - Về nội dung: từ có thể biểu thị ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái; hay là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó. - Về chức năng: từ là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu. Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, từ tiếng Việt và từ tiếng Lào còn có đặc điểm là: không biến hình trong sử dụng.
Vấn đề phân loại từ Từ có thể được phân loại dựa vào nhiều tiêu chí. Trong đó có hai tiêu chí quan trọng là tiêu chí cấu tạo và tiêu chí ngữ pháp. - Dựa vào tiêu chí cấu tạo, từ tiếng Việt được phân thành: từ đơn, từ láy, từ ghép. Từ đơn là: “Từ do hình vị độc lập tạo thành” [42, tr.
Từ láy là: “Nói chung là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa”.376] Từ ghép là: “Từ gồm từ hai hình vị trở lên đều có khả năng tách ra để dùng độc lập” [42, tr. - Dựa vào tiêu chí ngữ pháp, từ tiếng Việt được chia thành hai nhóm lớn là thực từ và hư từ. Thực từ và hư từ có một số điểm phân biệt nhau: + Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng còn hư từ thì không. + Thực từ là những từ có khả năng làm trung tâm đoản ngữ còn hư từ thì không.
+ Thực từ là những từ có thể giữ chức vụ ngữ pháp chính trong câu (làm chủ ngữ, vị ngữ) còn hư từ thì không. Thực từ và hư từ lại tiếp tục được phân chia thành các từ loại. Động từ là một từ loại nằm trong nhóm thực từ. 1 Thuật ngữ “tiếng Việt” được hiểu là hệ thống ngôn ngữ Việt Nam.
Khái quát về nghĩa của từ 1. Khái niệm nghĩa của từ Sự vật, hiện phản ánh vào ngôn ngữ Ý nghĩa tượng tư duy hóa của từ khách quan Khái niệm Nghĩa của từ là khái niệm về sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong tư duy, được ngôn ngữ hóa. Các thành phần nghĩa của từ a. Ý nghĩa biểu vật (nghĩa biểu vật) Ý nghĩa biểu vật là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động.) mà nó chỉ ra.
Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động., đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật. Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hoặc vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất. Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thần, thiên đường. Ý nghĩa biểu niệm (nghĩa biểu niệm) Ý nghĩa biểu niệm là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm).
Các ý đó người ta gọi là cái biểu niệm. Nghĩa biểu niệm của từ chứa đựng những hiểu biết của con người về những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Ví dụ: Từ “bàn” (danh từ): (Đồ dùng), (Có mặt phẳng được đặt cách mặt nền một khoảng đủ lớn bởi các chân), (Dùng để đặt đồ vật, sách vở, hoặc để viết). Đối với từ vựng ngữ nghĩa học, cái quan trọng là nghĩa biểu niệm.
Trọng tâm chú ý phân tích miêu tả của từ vựng - ngữ nghĩa học là nghĩa biểu niệm. Ý nghĩa biểu thái (nghĩa biểu thái, nghĩa biểu cảm, nghĩa hàm chỉ) Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói. Ví dụ: to, nhỏ, mạnh, yếu. (nhân tố đánh giá)/ ma quái, chém giết, tàn sát.
(nhân tố cảm xúc sợ hãi) đê tiện, hèn ha, lì lợm. Các thành phần nghĩa nói trên hiện diện trong mỗi từ không phải bao giờ cũng đồng đều và rõ ràng như nhau [25, tr. Nét nghĩa Đon vị giới hạn tối thiểu của bình diện nội dung; còn gọi là thành tố nghĩa, dấu hiệu ngữ nghĩa khu biệt, chỉ số ngữ nghĩa, nghĩa ngữ vị, nét nghĩa. Nghĩa tố là những sự phản ánh cơ sở các mặt và các thuộc tính khác nhau của các sự vật và hiện tượng của thực tế được biểu hiện trong ngôn ngữ.
Nghĩa tố là đơn vị có tính chất thao tác của phương pháp phân tích thành tố nghĩa khi nghiên cứu trường ngữ nghĩa của các từ và các biến thể từ vựng - ngữ nghĩa của từ , xác định sự giống và khác nhau của chúng. Nghĩa tố thường được hiện thực hóa như là những thành tố của nghĩa cơ bản (biến thể từ vựng- ngữ nghĩa) của từ. Trong nghĩa cơ bản của từ có thể có một hoặc một số nghĩa tố nằm trong quan hệ có thứ bậc, có giá trị và vai trò khác nhau [42, tr. Hiện tượng nhiều nghĩa a.
Nhận xét chung Ngôn ngữ có quy luật tiết kiệm vô cùng kì diệu: dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn. Quy luật này thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Ở ngữ âm, với vài chục âm vị, bằng cách kết hợp khác nhau có thể tạo nên một số lượng rất lớn các âm tiết. Trong ngữ pháp, với một số từ hữu hạn, có thể tạo ra các câu biểu hiện toàn bộ thế giới tư tưởng phong phú và đa dạng của con người.
Về mặt từ vựng, quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy, hiện tượng đa nghĩa được xem là một trong những quy luật có tính phổ quát của các ngôn ngữ. Giở bất kì cuốn từ điển tường giải nào của tiếng Việt, chúng ta cũng bắt gặp ngay hiện tượng đa nghĩa. Ví dụ, trong Từ điển tiếng Việt phổ thông (A-C), từ bện có hai nghĩa: 1.
Chập nhiều sợi lại thành dây, rồi tết các dây đó thành sợi to hoặc thành đồ dùng. Quấn và dính chặt vào (rơm bện vào bánh xe); từ cây có ghi 5 nghĩa: 1. Thực vật có thân, lá rõ rệt hoặc có hình thù giống những thực vật có thân, lá; 2. Từ dùng để chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vật có hình thức như thân cây; 3.
Từ dùng để chỉ người thông thạo đặc biệt về một mặt nào đó trong sinh hoạt; 5. So với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt cũng có những đặc điểm riêng của mình. 9 Để biểu thị những sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm mới ra đời, tiếng Việt có thiên hướng cấu tạo các đơn vị từ vựng mới hơn là phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có từ trước. Theo Nguyễn Thiện Giáp thì số đơn vị có nhiều nghĩa, cũng như số nghĩa trong những từ đa nghĩa của tiếng Việt đều thấp so với nhiều ngôn ngữ khác.
Trong khi đó, số lượng các đơn vị từ vựng mới tăng lên rất nhanh, đặc biệt là những đơn vị hai âm tiết [17, tr,187, 188]. Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt chủ yếu xảy ra ở các từ. Các tổ hợp từ cũng có hiện tượng nhiều nghĩa, song tỉ lệ rất thấp. Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt có hai kiểu sau đây: 1) Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động tự do.
2) Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động hạn chế. Các nghĩa của mỗi từ đa nghĩa có thể thuộc hai loại: nghĩa tự do và nghĩa hạn chế2. Nghĩa tự do là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các hiện tượng của thực tế khách quan. Sự hoạt động của các nghĩa này không bị hạn chế vào các ngữ cố định, mà có mối quan hệ rộng rãi và nhiều vẻ.
Bởi vì rằng mối quan hệ của các từ có nghĩa tự do với các từ khác không phải do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng quy định mà do bản thân những mối liên hệ có thật tồn tại giữa những sự vật hiện tượng khách quan được các từ này biểu thị quy định. Chẳng hạn, bộ phận thân thể được gọi là cổ có thể ngắn, dài, rám nắng,. nhưng nó không biết nghe, biết đi, biết suy nghĩ,. cho nên từ cổ có thể kết hợp với dài, ngắn, rám nắng, mà không kết hợp với nghe, đi, suy nghĩ,.
Nghĩa hạn chế là nghĩa chỉ được thể hiện trong những kết hợp hạn chế.