Tổng quan nghiên cứu

Diễn xướng Hát sắc bùa Phú Lễ hình thành từ cuối thế kỷ 19 tại vùng đất Bến Tre, trải qua hơn 100 năm tồn tại như một loại hình sinh hoạt văn hóa và tâm linh độc đáo của cư dân Nam Bộ. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: phân tích các đặc trưng sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật và sự khúc xạ của bản sắc văn hóa bản địa trong ca từ Hát sắc bùa.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm việc khảo sát toàn diện 2.650 đơn vị từ ngữ xuất hiện trong 30 bài hát sắc bùa kinh điển, phân loại từ ngữ theo nguồn gốc, phạm vi sử dụng, từ loại và hệ thống biện pháp tu từ, từ đó làm sáng tỏ các giá trị biểu đạt thẩm mỹ. Phạm vi ngữ liệu được giới hạn trong văn bản diễn xướng tại xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre cùng các địa bàn lân cận như huyện Giồng Trôm và Thạnh Phú.

Ý nghĩa khoa học của công trình thể hiện ở việc tạo lập bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên tiếp cận Hát sắc bùa dưới góc độ ngôn ngữ học liên ngành. Về mặt ứng dụng thực tiễn, kết quả nghiên cứu góp phần trực tiếp duy trì sức sống cho 5 đội hát sắc bùa đang hoạt động tại địa phương, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để bảo tồn 1 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trước nguy cơ mai một trong thời kỳ hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phong cách học ngôn ngữ nghệ thuật và lý thuyết ký hiệu học văn hóa hiện đại. Luận văn tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học về cấu trúc tín hiệu thẩm mỹ, kết hợp mô hình hệ thống mô hình hóa thứ hai của Yuri Lotman để phân tích cách thức ngôn ngữ tự nhiên được chuyển hóa thành ngôn ngữ thi ca. Đồng thời, công trình ứng dụng lý thuyết diễn xướng dân gian của Dell Hymes và Richard Bauman nhằm định vị ca từ trong mối tương quan chặt chẽ với hành vi trình diễn và ngữ cảnh giao tiếp xã hội.

Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm có: tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật, tính đa trị trong văn bản diễn xướng, trường từ vựng ngữ nghĩa và lớp từ địa phương. Trong đó, tính hình tượng và tính biểu cảm được xem là hai trục tọa độ chính giúp giải mã toàn bộ hệ thống biểu trưng của các bài hát lễ nghi và hát góp vui.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm 30 bài ca sắc bùa hoàn chỉnh với tổng dung lượng 2.650 lượt từ ngữ được trích xuất từ các tuyển tập khảo cứu dân gian uy tín tại tỉnh Bến Tre. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích toàn diện, bao quát 100% các bài hát nghi lễ trừ tà đầu năm và các bài hát chúc nghề nghiệp, sinh hoạt dân gian.

Quy trình xử lý dữ liệu kết hợp 3 phương pháp trụ cột: phương pháp thống kê phân loại nhằm định lượng chính xác tỷ lệ phân bố từ vựng theo nguồn gốc và phạm vi; phương pháp phân tích miêu tả ngữ nghĩa để làm rõ sắc thái biểu cảm của từng nhóm từ; và phương pháp tổng hợp liên ngành ngôn ngữ - văn hóa nhằm rút ra nhân sinh quan của cộng đồng cư dân. Toàn bộ tiến trình điều tra ngữ liệu, phân tích định lượng và nghiệm thu kết quả được thực hiện hoàn chỉnh trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên tổng số 2.650 từ ngữ của 30 bài hát đã ghi nhận những kết quả cụ thể sau:

Thứ nhất, xét theo nguồn gốc, lớp từ thuần Việt giữ vai trò áp đảo với 1.448 từ, chiếm tỷ lệ 54,64%. Lớp từ gốc Hán chiếm tỷ trọng lớn thứ hai với 1.152 từ, tương đương 43,47%. Nhóm từ cổ, từ biến thể truyền miệng và các từ chưa rõ từ nguyên chỉ chiếm 50 từ, chiếm tỷ lệ 1,89%.

Thứ hai, xét theo phạm vi sử dụng, từ địa phương Nam Bộ xuất hiện với tần suất 1.276 từ, đạt tỷ lệ 48,1%. Từ ngữ toàn dân chiếm 1.224 từ, tương ứng 46,2%. Các từ ngữ chuyên biệt đặc thù của diễn xướng sắc bùa chiếm 150 từ, đạt 5,7%.

Thứ ba, về cấu trúc thể loại và nội dung, có 11 trên 30 bài hát (chiếm 36,66%) thuộc nhóm bài hát chúc tụng trực tiếp các ngành nghề truyền thống như nghề làm ruộng, dệt vải, trồng bông, thợ mộc và thợ hồ, phản ánh bức tranh sinh động về đời sống kinh tế nông nghiệp cổ truyền.

Thảo luận kết quả

Sự cân bằng tương đối giữa 54,64% từ thuần Việt và 43,47% từ Hán Việt phản ánh cấu trúc chức năng kép của Hát sắc bùa Phú Lễ. Lớp từ Hán Việt mang sắc thái trang nghiêm, cổ kính, phục vụ đắc lực cho các nghi thức trừ tà, trấn bùa và khai môn đầu xuân. Ngược lại, lớp từ thuần Việt và 48,1% từ ngữ phương ngữ Nam Bộ giúp lời ca trở nên mộc mạc, gần gũi, phù hợp với không gian sinh hoạt hội hè của người nông dân chất phác.

Các dữ liệu thống kê trên có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phân bố nguồn gốc từ vựng và bảng ma trận đối sánh giữa chức năng nghi lễ với mật độ từ loại danh từ, động từ. Khi đặt trong tương quan so sánh với hát sắc bùa ở khu vực Trung Trung Bộ như Quảng Nam, Quảng Ngãi hay Nghệ An, sắc bùa Phú Lễ cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ về tính thế tục. Ngôn ngữ của sắc bùa Bến Tre giảm bớt tính ma thuật huyền bí và gia tăng đậm nét tinh thần lạc quan, yêu lao động cùng những ước vọng ấm no, thanh bình.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm gìn giữ và phát huy giá trị ngôn ngữ của di sản Hát sắc bùa Phú Lễ, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Số hóa và chuẩn hóa văn bản ca từ: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa 100% kho tàng 30 bài ca sắc bùa kèm theo chú giải ngữ nghĩa chi tiết trong vòng 12 tháng tới.

  2. Đưa diễn xướng vào chương trình giáo dục địa phương: Ngành giáo dục huyện Ba Tri phối hợp cùng các trường học triển khai giảng dạy ngôn ngữ và làn điệu sắc bùa cho tối thiểu 80% học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn giai đoạn 2024 - 2026.

  3. Củng cố và mở rộng không gian thực hành cộng đồng: Ủy ban nhân dân xã Phú Lễ và xã Phong Nẫm đầu tư trang thiết bị, duy trì chế độ sinh hoạt thường xuyên cho 5 đội hát hiện có, đồng thời tổ chức đào tạo ít nhất 20 nghệ nhân trẻ kế cận trước năm 2027.

  4. Phát triển sản phẩm du lịch di sản gắn với trải nghiệm ngôn ngữ: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Bến Tre tích hợp các tiết mục trình diễn Hát sắc bùa vào 100% các tour du lịch sinh thái và làng nghề tại huyện Ba Tri nhằm tạo nguồn thu nhập bền vững cho nghệ nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Ngôn ngữ học: Khai thác kho ngữ liệu 2.650 từ ngữ và phương pháp phân tích phong cách học để phát triển các nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ cũng như lịch sử tiếng Việt.

  2. Các nhà nghiên cứu Văn hóa học và Folklore: Sử dụng nguồn tư liệu 30 bài hát sắc bùa để khảo sát sự giao thoa văn hóa giữa các làn sóng di dân từ miền Trung vào vùng đất Bến Tre cuối thế kỷ 19.

  3. Nghệ nhân dân gian và các câu lạc bộ văn nghệ truyền thống: Nắm vững ý nghĩa của 1.152 từ gốc Hán và 1.276 từ địa phương để trau chuốt lời ca, giữ gìn độ chuẩn xác khi biểu diễn trong 5 đội hát cộng đồng.

  4. Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Ứng dụng hệ thống giải pháp và cơ sở lý luận của đề tài để lập hồ sơ bảo tồn cho 100% các loại hình diễn xướng dân gian đang có nguy cơ mai một.

Câu hỏi thường gặp

Hát sắc bùa Phú Lễ hình thành vào thời gian nào và có nguồn gốc từ đâu? Loại hình này ra đời vào khoảng cuối thế kỷ 19 tại xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, do một nghệ nhân gốc Bình Định truyền dạy rồi nhanh chóng lan tỏa ra các vùng lân cận.

Cấu trúc từ vựng trong Hát sắc bùa phân bố theo tỷ lệ như thế nào? Kết quả khảo sát 2.650 từ ngữ cho thấy từ thuần Việt chiếm 54,64% với 1.448 từ, từ gốc Hán chiếm 43,47% với 1.152 từ, và từ có nguồn gốc khác chiếm 1,89% với 50 từ.

Vì sao từ gốc Hán lại chiếm tỷ trọng lớn trong một hình thức dân ca Nam Bộ? Tỷ lệ 43,47% từ gốc Hán xuất phát từ yêu cầu tạo sự trang nghiêm, thần bí cho các bài hát nghi lễ đầu năm như trừ tà, khai môn và dán bùa cầu bình an.

Đội hình biểu diễn Hát sắc bùa Phú Lễ gồm bao nhiêu người và dùng nhạc cụ gì? Mỗi đội hát thường có từ 4 đến 8 nghệ nhân nam, sử dụng bộ nhạc cụ gồm 2 sanh tiền, 2 sanh cái, 1 đàn cò và 1 trống cơm giữ nhịp.

Phương ngữ Nam Bộ đóng vai trò gì trong việc tạo dựng phong cách bài ca? Với tỷ lệ 48,1% gồm 1.276 từ, phương ngữ Nam Bộ giúp lời ca phản ánh chân thực tính cách bộc trực, hồn hậu và tinh thần phóng khoáng của cư dân vùng đất sông nước.

Kết luận

  • Luận văn đã thống kê và phân loại khoa học toàn bộ 2.650 đơn vị từ ngữ từ 30 bài Hát sắc bùa Phú Lễ tiêu biểu.
  • Khẳng định tỷ lệ cấu trúc ngôn ngữ độc đáo với 54,64% từ thuần Việt và 43,47% từ gốc Hán trong việc tạo lập không gian nghi lễ và sinh hoạt.
  • Làm rõ đóng góp của 1.276 từ địa phương Nam Bộ trong việc định hình phong cách nghệ thuật diễn xướng dân gian.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu ngôn ngữ học liên ngành chuẩn xác phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại Bến Tre.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp khả thi nhằm duy trì hoạt động cho 5 đội hát sắc bùa trong giai đoạn 3 năm tiếp theo.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ học. Hãy cùng khai thác và ứng dụng kết quả nghiên cứu này để tiếp tục phát huy vẻ đẹp trong sáng, giàu bản sắc của tiếng Việt trong kho tàng văn hóa dân tộc.