Chương I 'NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ THUYÉẾT LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI 1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 1.1 Khái niệm Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu và là một hệ thống tín hiệu đặc biệt. Nói đến tín hiệu là nói đến chức năng chứa đựng và truyền tải thông tin của chúng. Ngôn ngữ phi nghệ thuật chú trọng vào nội dung thông tin mà nó.
hàm chứa và chuyển tải thông qua tính lô gíc, tính trực tiếp, tính đơn nghĩa và tính tiếp nhận mau chóng để đối tượng giao tiếp dễ dàng nắm bắt và thực hiện các hành vi tương ứng. Do đặc điểm trên chỉ phối nên ngôn ngữ phi nghệ. thuật là loại ngôn ngữ mang thông tin lô gíc và chỉ có một cách hiểu duy nhất cho tắt cả các đối tượng tiếp nhận, chúng thực hiện chức năng quan trọng nhất à chức năng thông báo. Khác với ngôn ngữ phi nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật là một hệ thống tín hiệu hết sức phức tạp và chặt chẽ.
Tính phức tạp thể hiện trên hai bình diện: tính đa trị và tính đa phong cách (Hữu Đạt, 2001). Ta có thể khám. phá ra rit nhiều lớp nghĩa trong những đơn vị (một từ, một câu hay một văn bản) mang thông tin. Trong một tác phẩm văn chương cũng có thể tìm thấy.
các phong cách ngôn ngữ đan xen nhau một cách hài hòa tạo thành bản hòa không có chỉ tiết thừa. Với đặc điểm đó đòi hỏi người thưởng thức và tìm hiểu nó phải có một năng lực tổng hợp về các loại tri thức và các thao tác để mỗ xẻ và khai thác nó một cách khoa học. Tính chặt chẽ của ngôn ngữ văn chương được thể hiện ở tính hệ thống. Mỗi một tác phẩm là một tổng thể.
không thể ch rời. Tất cả các yếu tố của hệ t ống đều là những dấu hiệu hướng vào sự thê hiện một thông điệp thống nhất. Chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ văn chương là chức năng thẩm mĩ, khác với ngôn ngữ phi nghệ thuật có chức năng quan trọng nhất là chức năng thông báo. Ngôn ngữ phi nghệ thuật mang tính đơn nị cũng đồng nghĩa với vai trò phản ánh các thuộc tính đơn lẻ của sự vật hiện tượng một cách khách.
Trong thực tế cuộc sống, mọi sự vật đều tồn tại trong không gian và. thời gian trong tư thế không ngừng biến đổi và nó được phản ánh dưới ý thức chủ quan của con người. Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ đa phong cách. và đa giá trị, chỉ có nó mới đủ sức phản ánh những thuộc tính vừa mang tính khách quan vừa mang tinh chủ quan của các sự vật hiện tượng trong đời sống.
chúng ta. Trong khi cố gắng phản ánh những thuộc tính của các sự vật hiện tượng một cách chính xác nhất, ngôn ngữ nghệ thuật trở thành thứ ngôn ngữ. mẫu mực đạt đến trình độ phát triển cao. Điều này giải thích vì sao có nhiều ngôn ngữ của nhiều dân tộc không được xếp vào hàng ngũ ngôn ngữ văn học.
Thời đại nào cũng vậy, vai trò của các nhà văn trong việc trau dồi ngôn ngữ dân tộc là không thể phủ nhận được. Ngôn ngữ nghệ thuật vì thế xứng đáng. giữ vai trò trung tâm của ngôn ngữ dân tộc; sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc luôn luôn gắn với các tên tuổi ic nhà văn, nhà thơ lớn. Ví dụ: Nhớ quá với Nhớ ai ra ngắn vào ngơ; Thương lắm với Thương thay thân phận đàn bà: thương quá là thương; thương ôi tài sắc bậc này; đến sông Hương uống rượu và say rượu với Sông Hương hoá rượu ta đến uống - Ta tỉnh đền đài ngả.
Nguyễn Trọng Tạo; mau già, già nhanh với tuổi già sằm sập đuổi sau lung. “Tóm lại ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ đa trị. Khi giải mã một văn. 'bản nghệ thuật chúng ta cần thiết phải trả lời 2 câu hỏi: nó nói gì? và cái đó.
được nói theo cách nào? Giải thích ngôn ngữ nghệ thuật là đi tìm các giá trị của những cấu trúc bao nhau. Hai phương thức tăng cường năng lực biểu đạt cho ngôn ngữ văn chương thông thường nhất là tạo nghĩa hàm ẩn và vận dung quan hệ liên tưởng thông qua các phương tiện tu từ đẻ mở rộng phương diện ý nghĩa. Ngôn ngữ nghệ thuật phản ánh thế giới khách quan bằng hình tượng. Vì vậy nó là thứ ngôn ngữ được trau chuốt, chọn lựa, sắp xếp.
đạt đến một trình độ cao nhất trong nhiệm vụ biểu đạt một nội dung nhất định. Tóm lại ngôn ngữ ngệ thuật là ngôn ngữ trong các tác phẩm văn chương. là một loại ngôn ngữ phức tạp, mang chức năng chủ yếu là chức năng thông. báo thắm mĩ thông qua sự cảm nhận về hình tượng nghệ thuật được xây dựng, bằng chất liệu ngôn từ.
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực. văn chương, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khác với các phong cách ngôn ngữ khác ở những điểm cơ bản sau: Tính thẩm mĩ: Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm nữ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thâm mĩ. Tính đa nghĩa: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ân.
Các thành phần nghĩa này. thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trong trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm. gợi liên tưởng, tưởng.
tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Dấu ấn riêng của tác giả: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những. tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả.
Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật Mỗi văn bản nghệ thuật là một thể thống nhất, hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức. Trong từng văn bản, “các thành tổ nội dụng, tư tưởng, tình cảm, hình tượng và các thành tổ hình thức ngôn ngữ diễn đạt chúng không những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thắng nói chưng "[28] Theo Đỉnh Trọng Lạc, *Ngôn ngữ nghệ thuật (tức ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ) là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ. thống tính hiệu thứ nhất (ngôn ngữ tự nhiên). Chức năng thẩm mĩ của ngôn từ trong các tác phẩm nghệ thuật được thẻ hiện ở chỗ, các tín hiệu ngôn ngữ (tức đặc trưng nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình.
[28] Đỗ Hữu Châu cho rằng, ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ liên hội, 'bản chất của nó là dùng những chỉ tiết đời sống hiện thực vào mục thâm. Chính ngôn ngữ ấy khi đi vào những tác phẩm nghệ thuật không còn trần trụi như bản thân nó nữa, mà vượt ngoài phạm vi ngữ nghĩa thông thường, gọi là ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật là một kiểu cấu trúc đặc biệt, một dang thông báo nghệ thuật, khơi gợi ở người đọc trí tưởng tượng và khả năng phát hiện sáng tạo. Nói đến ngôn ngữ nghệ thuật là nói đến tính hàm sức, chính xác, cụ thể trong diễn tả, song lại hướng tới sự mơ hồ, đa nghĩa, hàm ngôn.
Để làm được điều đó.một người nghệ sĩ phải tìm tòi.lựa chọn ngôn ngữ hết sức công. phu để mỗi từ, mỗi câu hàm chứa những ý nghĩa phong phú, sâu sắc, thậm chí có điều vượt ra khỏi chủ đích ban đầu của người viết. “Tính hàm súc cô đọng trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở nguyên tắc tiết kiệm ngôn từ. Chỉ với một lượng ngôn ngữ hạn định nhưng văn bản.
nghệ thuật có khả năng thể hiện những nội dung phong phú, ý tại ngôn ngoại như các nói của người xưa. 10 Để phân biệt ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật, Dinh “Trọng Lạc đưa ra sáu tiêu chí: hệ thống tín hiệu, chức năng xã hội, tính hệ. thống, bình diện nghĩa, sự có mặt của các loại phương tiện ngôn ngữ, vai trỏ. ngôn ngữ dân tộc.
Trước tiên là sự khác nhau về hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ phi nghệ. thuật được xác định như một mã chung,phô biến nhất, tức một hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng những tín hiệu đó mà con người để vật chất hoá những ý nghĩ, tình cảm của mình, còn ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ) lại là một mã phức tạp hơn, là hệ thống tín hiệu thứ hai được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (ngôn ngữ tự nhiên). Ngôn ngữ trong mỗi tác phẩm văn học là một phương tiện biểu hiện. nội dung tư tưởng nghệ thuật của chính tác phẩmấy Ngôn ngữ phi nghệ thuật mang chức năng giao tiếp, còn ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật thì chức năng thâm mĩ xuất hiện ở bình diện thir nó đây chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai.
Cả ngôn ngữ nghệ thuật và phi nghệ thuật đều có tính hệ thống, nhưng giữa chúng có sự khác nhau rõ rệt về chất. Tính hệ thống của ngôn ngữ nghệ thuật được xác định bởi vai trò của các đơn vị, các cắp độ trong hệ thống. các hiện tượng của các tác phẩm cũng như trong hệ thống các phong cách của cá nhân tác giả. Ngôn ngữ ph nghệ thuật chỉ có một bình diện nghĩa, ngược lại, ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình điện nghĩa: một mặt hướng vào hệ thống ngôn ngữ.
văn hoá với những ý nghĩa của các từ, các hình thức ngừa pháp,mặt khác, hướng vào hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật. Bởi vì sự phản ánh thể giới trong tác phẩm văn học đi đôi với hư cấu nghệ thuật nảy sinh lượng thông tin đôi: vừa mô tả khách thể vừa mô tả tác giả. "1 Sự có mặt ở các loại phương tiện trong ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ toàn đân.Trong những phạm vi nhất định, ngôn ngữ nghệ thuật còn sử sụng cả phương tiện ngoài ngôn ngữ văn hoá như những từ địa phương. Thậm chí, ngôn ngữ phi nghệ thuật cũng được sử dụng trong tác phẩm.
văn học như những hình thức nghệ thuật Cuối cùng, ngôn ngữ nghệ thuật giữ vai trò trung tâm của ngôn ngữ dân tộc.