Chương 1 của luận án trình bày một cách tổng quan chắt lọc các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề cảnh huống ngôn ngữ, các quan niệm, khái niệm, từ đó xác định cơ sở lý thuyết cho đề tài như về: song (đa) ngữ, cảnh huống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ, giáo dục ngôn ngữ; đồng thời giới thiếu khái quát về địa bàn khảo sát. Nội dung của chương được tổ chức theo 3 phần: (1) tổng quan vấn đề nghiên cứu; (2) cơ sở lý thuyết; (3) địa bản khảo sát. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Các nhà ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam đã có nhiều công trình, luận án nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ.
Theo đó, những nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam có thể xếp theo hai khuynh hướng: một khuynh hướng nghiêng về phần lí luận, đi sâu vào phân tích nội hàm của khái niệm cảnh huống ngôn ngữ là gì; khuynh hướng còn lại đi sâu miêu tả cảnh huống ngôn ngữ của một vùng lãnh thổ hay ở một dân tộc thiểu số của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về lý thuyết cảnh huống ngôn ngữ Ở khuynh hướng nghiên cứu này, các nhà ngôn ngôn ngữ học xã hội Việt Nam trên cơ sở chắt lọc những kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thế giới đã đưa ra cách hiểu của mình về khái niệm “cảnh huống ngôn ngữ”. Trong số các nhà ngôn ngữ học quan tâm đến vấn đề cảnh huống ngôn ngữ, chúng ta có thể kể đến những tác giả như Hoàng Tuệ [Hoàng Tuệ 1992b; 1993], Hoàng Văn Hành [Hoàng Văn Hành 2002a], Nguyễn Văn Lợi [Nguyễn Văn Lợi 1995; 2000], Nguyễn Đức Tồn [Nguyễn Đức Tồn 2016], Nguyễn Văn Khang [Nguyễn Văn Khang 1999; 2012], v. Mỗi tác giả có mức độ và phạm vi nghiên cứu vấn đề khác nhau.
Trong số đó, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Khang là người có những chuyên luận sâu 15 sắc, xuyên suốt và khá toàn diện về những vấn đề của ngôn ngữ học xã hội, bao gồm cảnh huống ngôn ngữ. Nguyễn Văn Khang đã hệ thống hóa những nghiên cứu khác nhau trên thế giới về nội hàm khái niệm cảnh huống ngôn ngữ ở nhiều nước phương Tây, ở Trung Quốc để đưa ra một cách hiểu của ông về khái niệm này. Trong cuốn sách Ngôn ngữ học xã hội xuất bản năm 2012, ông dành hẳn một chương viết về khái niệm cảnh huống ngôn ngữ và đưa ra 3 tiêu chí tổng hợp để nhận diện cảnh huống ngôn ngữ là tiêu chí về lượng, tiêu chí về chất và tiêu chí về thái độ ngôn ngữ [Nguyễn Văn Khang 2012, tr 58-83]. Đồng thời, tác giả Nguyễn Văn Khang còn đề xuất lấy đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ trong một quốc gia để phân loại ngôn ngữ theo “quan hệ cội nguồn” hoặc theo “loại hình ngôn ngữ”.
Có thể đây là một đề nghị mới cụ thể xuất phát từ góc nhìn ngôn ngữ học xã hội mà ở đó, lấy cảnh huống của ngôn ngữ làm dấu hiệu để phân loại. Những tiêu chí mà tác giả đưa ra để phân loại ngôn ngữ trong một địa bàn hay trong một khu vực phụ thuộc vào “vị thế chức năng” của ngôn ngữ, phụ thuộc vào việc “ngôn ngữ có văn tự hay không có văn tự”, phụ thuộc vào phạm vi hay mức độ giao tiếp “liên quốc gia” hay “liên dân tộc”. Có thể nói, đề nghị phân loại ngôn ngữ theo “cảnh huống ngôn ngữ” cho phép chúng ta nhận thấy rõ vị thế của một ngôn ngữ trong sự hành chức của nó ở một cồng đồng dân cư cụ thể. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Khang còn có những nghiên cứu chung về cảnh huống ngôn ngữ ở quốc gia Việt Nam.
Theo ông, ở Việt Nam, xét từ những góc độ có liên quan đến tiêu chí của cảnh huống ngôn ngữ là số lượng ngôn ngữ, dân số sử dụng đối với mỗi ngôn ngữ và từ góc độ cư trú của người sử dụng ngôn ngữ… thì Việt Nam là một vùng lãnh thổ có có cảnh huống ngôn ngữ rất đa dạng và phức tạp, trong đó mỗi ngôn ngữ có sự chi phối ở những mức độ khác nhau. Đồng thời, tác giả Nguyễn Văn Khang đã có những phân tích riêng về đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ của tiếng Việt - ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Ông cho rằng, “cư dân giao tiếp bằng tiếng Việt đa phương ngữ tạo ra sự tương tác giữa ba vùng phương ngữ của tiếng Việt và làm nảy sinh phương ngữ tiếng Việt pha trộn” [Nguyễn Văn 16 Khang, 2012, tr.73] và “tiếng Việt đang có những biến động mạnh dưới tác động của các nhân tố xã hội” [Nguyễn Văn Khang 2012, tr. Có thể nói rằng, trong nghiên cứu về lí thuyết cảnh huống ngôn ngữ, bên cạnh đóng góp của nhiều tác giả, đóng góp của Nguyễn Văn Khang là rất có giá trị, toàn diện.
Người ta nhận thấy rằng, hầu hết những luận án về ngôn ngữ học xã hội tiếp cận vấn đề cảnh huống ngôn ngữ cho một ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam hay đối với một vùng lãnh thổ cụ thể nào đó đều lấy những phần lý thuyết về cứu cảnh huống ngôn ngữ mà ông xây dựng để làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu của mình. Và chúng tôi, khi thực hiện luận án nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ ở Quảng Tây Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Những nghiên cứu trường hợp về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, có 54 dân tộc cùng chung sống, ngoài dân tộc Kinh thì 53 dân tộc còn lại đều là các dân tộc thiểu số. Trong đó, mỗi dân tộc thiểu số đều có ngôn ngữ riêng, thậm chí có một vài ngôn ngữ riêng, của dân tộc đó3.
Đặc điểm này đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về sắc màu ngôn ngữ mà trong quá trình tồn tại, giữa các ngôn ngữ này còn diễn ra sự tiếp xúc ngôn ngữ rất thú vị, thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Việc nghiên cứu CHNN các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chủ yếu tập trung từ hai khuynh hướng là: CHNN của tiếng Việt và CHNN trong vùng dân tộc thiểu số Khuynh hướng thứ nhất, nghiên cứu CHNN các dân tộc thiểu số trên bình diện hay phạm vi rộng, bao quát trên toàn quốc gia hay những khu vực cụ thể có tính chất là những vùng đại diện. Tiêu biểu là các nghiên cứu của nhóm tác giả do Hoàng Tuệ chủ biên [Hoàng Tuệ…1987], đề cập đến vấn đề CHNN các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam; nghiên cứu Cảnh huống tiếng Thái của nhóm tác giả Vũ Bá Hùng, Phạm Văn Hảo, Hà Quang Năng [Vũ Bá Hùng, 1997, tr 49-62]…. Khuynh hướng thứ hai, nghiên cứu CHNN của một dân tộc sống trên một địa 3 Ví dụ, trong danh mục dân tộc thì chỉ có tên gọi Sán Chay; nhưng do dân tộc này có hai tộc người nói tiếng Cao Lan và Sán Chỉ là hai tiếng nói khác nhau.
17 bàn hay CHNN của một địa bàn gồm có nhiều dân tộc thiểu số khác nhau cùng sinh sống. Phần lớn, những nghiên cứu về CHNN của một dân tộc sống trên một địa bàn hay CHNN của một địa bàn gồm có nhiều dân tộc thiểu số là những bài báo hay luận án tiến sĩ, luận văn thạc si. Có thể nhắc đến như nghiên cứu ở cấp độ luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Hoàng Lan [Nguyễn Hoàng Lan, 2010], phân tích về cảnh huống đa ngữ trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; hay như bài báo nghiên cứu của nhóm Nguyễn Thị Thanh Huyền [Nguyễn Thị Thanh Huyền - Bình Thành, 2010], phân tích một số đặc điểm về cảnh huống ngôn ngữ trên địa bàn tỉnh Hà Giang; hoặc bài báo của nhóm Dương Thị Thanh Hoa [Dương Thị Thanh Hoa - Lan Hương, 2010]; Trần Phương Nguyên [Trần Phương Nguyên, 2013-2014] nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Nam Bộ nói chung; luận án tiến sỹ của Hà Thị Tuyết Nga [Hà Thị Tuyết Nga, 2014] nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ của dân tộc Tày và luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Thu Dung [Nguyễn Thị Thu Dung, 2015] có khảo cứu về cảnh huống ngôn ngữ huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên; Bùi Thanh Hoa [Bùi Thanh Hoa, 2015] nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc Việt Nam để nghiên cứu tình hình sử dụng gôn ngữ ở vùng DTTS này. Cũng theo khuynh hướng thứ hai, một số công trình có bàn riêng về thái độ ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số có cảnh huống đa ngữ.
Có thể nhắc đến như: cuốn sách “Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Trần Trí Dõi [Trần Trí Dõi 2004] là một nghiên cứu cho chúng ta rút ra một nhận xét quý giá về thái độ ngôn ngữ của người DTTS đối với tiếng Việt. Bởi vì, thông qua tỷ lệ người đi học tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông của Việt Nam ở ba tỉnh vùng DTTS miền núi phía Bắc, chúng ta nhận biết học sinh DTTS ở những địa bàn này có thái độ tích cực đối với ngôn ngữ phổ thông của quốc gia. Hay như bài viết “Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của các dân tộc thiểu số tại đồng bằng sông Cửu Long" của Hoàng Quốc [Hoàng Quốc 2015a]. Trong bài viết này, tác giả đã thông qua việc sử dụng ngôn ngữ của người Hoa và người Khmer ở Nam Bộ phân tích về thái độ ngôn ngữ của hai tộc người đó đối với tiếng phổ thông 18 và tiếng mẹ đẻ của họ.
Ngoài ra, còn có bài viết “Mối quan hệ giữa thái độ ngôn ngữ và sự lựa chọn ngôn ngữ (Nghiên cứu trường hợp cộng đồng phương ngữ Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh)" [Trịnh Cẩm Lan, 2012] nghiên cứu về thái độ đối với tiếng Việt phổ thông và tiếng địa phương nơi họ sinh sống. Ngoài ra, bài viết “Nhu cầu ngoại ngữ và thái độ của công chức đối với chính sách ngoại ngữ hiện nay ở Việt Nam” của Vũ Thị Thanh Hương [Vũ Thị Thanh Hương, 2012] nghiên cứu về thái độ các loại ngôn ngữ thứ 2 như một ngoại ngữ ở Việt Nam, v. Như vậy, nghiên cứu về thái độ ngôn ngữ - một trong những tiêu chí hợp thành khái niệm CHNN, cũng được nhiều nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam quan tâm.