Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 1. Thơ và ngôn ngữ thơ Khái niệm thơ Nếu như âm thanh, giai điệu là chất liệu của âm nhạc; màu sắc, đường nét là chất liệu của hội hoạ; mảng khối là chất liệu của kiến trúc thì ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương. Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Tuy nhiên tuỳ vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi loại thể văn học có những đặc điểm riêng.
Là nghệ thuật “lấy ngôn từ làm cứu cánh” (Jakobson), ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ. Đó là thứ ngôn ngữ được chưng cất công phu vì “bài thơ là tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ”. Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không thể phủ nhận trong yếu tính thơ, vì “thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ”. 12 Thơ là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến rộng và sâu.
Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú, nhưng cái cốt lõi của thơ chính là yếu tố trữ tình. Bởi vì thơ ca bao giờ cũng là tấm gương phản chiếu tâm hồn, là tiếng nói của tình cảm con người, là những rung động của trái tim trước cuộc đời. Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”. Ngƣời ta ở đây chính là bản thân nhà thơ với tư cách một cái tôi trữ tình, hoặc là nhân vật trữ tình nào đó, và cũng có thể là người đọc thơ.
Một bài thơ hay với nhiều tầng liên tưởng không dễ gì ta cảm nhận ngay được, có khi chỉ bằng linh cảm mà ta nhận ra cái “ý tại ngôn ngoại” ấy. Hoàng Đức Lương trong tựa “Trích diễm thi tập” từng đề cao thơ: “Đối với thơ văn, cổ nhân ví như khoái chá, ví như gấm vóc; khoái chá là vị rất ngon trên đời, gấm vóc là màu rất đẹp trên đời, phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng mà không vứt bỏ khinh thường. Đến như văn thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được. Chỉ thi nhân là có thể xem mà biết được sắc đẹp, ăn mà biết được vị ngon ấy thôi.
Hay như Sóng Hồng (cố Tổng bí thư Trường Chinh) cũng từng viết: “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng”. Vì vậy, để viết được bài thơ hay nhà thơ không thể không khổ công đi tìm ý, tứ, câu, chữ và bao yếu tố khác trong thơ và ngoài thơ. Đặc trưng của ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính hoạ) vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc). Các đặc điểm trên hoà quện với nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa.
Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh Hình ảnh thơ bao giờ cũng là sự kết tinh của việc sử dụng ngôn ngữ. Vì thế hình ảnh thơ luôn có ý nghĩa trong việc tạo hiệu ứng nghệ thuật, góp phần 13 khẳng định sự hiện hữu của thơ. Vì “thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng một vũ trụ qua trung gian biểu tượng, một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó.
Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ, lí do tồn tại của thơ, biểu tượng chính của thơ” (Huỳnh Phan Anh). Như vậy, dù là tiếng vọng từ tâm linh, là tiếng gọi từ trong vô thức thì thơ cũng phải tồn sinh dựa vào nhiều phương thức biểu hiện, trong đó không thể không có ngôn ngữ và hình ảnh- những thi liệu đầu tiên mà người đọc chạm tới trước khi bước vào khám phá thế giới mộng mị và hư ảo của thơ. Hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao mới thể hiện tư tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhà thơ không nói bằng phạm trù tư duy lo- gíc như trong các môn khoa học tự nhiên mà thông qua hình ảnh cụ thể để diễn đạt những ý niệm trừu tượng.
Nhà thơ Tố Hữu viết về bốn mùa (đông, xuân, hè, thu) ở núi rừng Việt Bắc bằng ngôn ngữ giàu tính hoạ (có người gọi đây là bức tranh tứ bình): Rừng xanh hoa chuối đỏ tƣơi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lƣng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ ngƣời đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung (Việt Bắc) Khương Hữu Dụng viết Một tiếng chim kêu sáng cả rừng (Hành quân qua đèo Hải Vân) tạo cảm giác như ta vừa bước từ trong bóng tối ra ánh sáng, thật sung sướng. Hay như Nguyễn Duy trong bài “Lời ru đồng đội” đã viết: 14 Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bƣng Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm Có ngƣời ngủ thế thành quen Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình Có nhà thơ so sánh mái tóc dài của thiếu nữ khá độc đáo: Tóc em dài nhƣ một tiếng chuông ngân (chuyển từ quan sát bằng thị giác sang thính giác). Hay Trần Đăng Khoa cảm nhận được âm thanh rất nhẹ của chiếc lá đa rơi trong bài “Đêm ngủ ở Côn Sơn”: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng nhƣ là rơi nghiêng (chuyển sự cảm nhận từ thính giác sang thị giác). Tất cả những câu thơ trên đều gợi liên tưởng, tạo hình tượng khá rõ.
Nếu không có trí tưởng tượng kì diệu thì khó mà viết được những câu thơ như thế. Để có được những từ ngữ “loé sáng” đó, ngoài vốn từ vựng phong phú, nhà thơ còn phải biết kết hợp các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, điệp từ.trong cách diễn đạt. Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ một cách trực tiếp thật đẹp qua một loạt hình ảnh so sánh trùng điệp gợi trường liên tưởng rộng: Anh bỗng nhớ em nhƣ đông về nhớ rét Tình yêu ta nhƣ cánh kiến hoa vàng Nhƣ xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hƣơng (Tiếng hát con tàu) Nỗi nhớ trong tình yêu giữa anh với em là tất yếu như quy luật đất trời đông về nhớ rét. Còn tình yêu ta quý như cánh kiến hoa vàng- thứ đặc sản của núi rừng Tây Bắc và đẹp như sắc biếc lông chim lúc xuân sang.
Tác giả đã cụ thể hoá khái niệm trừu tượng là tình yêu thành những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với con người, nhất là người miền núi. ở một bài khác, Chế Lan Viên lại bộc lộ nỗi nhớ sâu lắng, trăn trở và da diết hơn: Anh nhớ em nhƣ đất liền xa cách bể 15 Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phƣơng em Em thân thuộc sao thành xa lạ thế Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm Không tin vào cuộc sống, không tin vào tình yêu, Nguyễn Bính tìm tới cả quán bên đường, tới chiếc lá khoai để so sánh với tình yêu vô vọng: Lòng em nhƣ quán bán hàng/ Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi.Lòng em nhƣ chiếc lá khoai/ Đổ bao nhiêu nƣớc ra ngoài bấy nhiêu (Hai lòng). Ta có thể bắt gặp vô vàn những hình ảnh so sánh ví von tạo hình ảnh độc đáo trong thơ Xuân Diệu: Tháng Giêng ngon nhƣ một cặp môi gần; Tóc mịn đầy tay nhƣ suối mát; Lá liễu dài nhƣ một nét mi; Không gian xám tƣởng sắp tan thành lệ; Mây đa tình nhƣ thi sĩ thời xƣa. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm.
Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Có thể xem tính nhạc là nét đặc thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ. “Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca.
Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi” (Bằng Giang). Bởi nhạc tính như một nét duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố tạo mĩ cảm cho người đọc. “Ly khai với nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên” (Tam ích). Và “Thơ là sự phối hợp của âm thanh”.
Thơ bao giờ cũng là kết hợp hài hoà giữa ý và nhạc. Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say đắm lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên). Rõ ràng, nhạc tính là tiếng nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như La Fontaine: “Chẳng có thơ nào không có nhạc”.
Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hoà âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình, 16 chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc. Nhạc tính trong thơ được tạo nên từ nhiều yếu tố như nhịp điệu, cách gieo vần, phối thanh.Vần là sự lặp lại những âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc tính. Thơ có vần chính là vần thông. Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự.
Xét về vị trí vần, còn chia ra vần chân và vần lưng. Thơ tự do ngày nay không bó buộc về hiệp vần, nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vần như một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ: Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan/ Đƣờng Bạch Dƣơng sƣơng trắng nắng tràn. Tố Hữu lặp lại vần ngay trong một dòng thơ khiến câu thơ như ngân lên điệu nhạc du dương, trầm bổng. Nếu ngôn ngữ và hình ảnh là những yếu tố song hành thì âm điệu cũng là yếu tố đồng hành với tính nhạc.
Nói một cách hình ảnh, nếu ngôn ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc thanh âm ngân lên từ sợi dây đàn ấy. Việc kiến tạo âm điệu trong thơ cũng chính là kiến tạo nhạc tính. Và âm điệu cũng là chiếc cầu nối thơ với người đọc, dẫn dụ người đọc đi vào thế giớ màu nhiệm của thơ ca.