CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hội chứng mạch vành mạn 1.1 Định nghĩa Bệnh động mạch vành là một quá trình bệnh lý đặc trưng bởi tích lũy mảng xơ vữa động mạch trong các động mạch vành thượng tâm mạc, gây tắc nghẽn hoặc không tắc nghẽn. Quá trình này có thể thay đổi được bằng điều chỉnh lối sống, thuốc và can thiệp xâm lấn để ổn định hoặc thoái triển bệnh. Bệnh lý này có thể có thời kỳ ổn định kéo dài, nhưng cũng có thể trở nên không ổn định bất kỳ lúc nào do biến cố huyết khối xơ vữa cấp tính gây ra bởi nứt vỡ hoặc xói mòn mảng xơ vữa.1 Sơ đồ minh họa diễn tiến tự nhiên của hội chứng mạch vành mạn Nguồn: ESC, 2019 [51] Tuy nhiên, bệnh động mạch vành mạn thường tiến triển và nặng, thậm chí trong những thời kỳ không biểu hiện lâm sàng. Bản chất động học của quá trình bệnh động mạch vành dẫn đến những biểu hiện lâm sàng khác nhau, có thể được phân loại thành hội chứng mạch vành cấp hoặc hội chứng mạch vành mạn (hình 1.
Hướng dẫn của. 4 Hội Tim Châu Âu năm 2019 [51] sử dụng thuật ngữ “hội chứng mạch vành mạn” (Chronic Coronary Syndrome) thay cho “bệnh động mạch vành ổn định” (Stable Coronary Artery Disease) trong khuyến cáo vào năm 2013 [60].2 Cơ chế sinh lý bệnh: Nhiều cơ chế sinh lý bệnh khác nhau có thể gây ra thiếu máu cục bộ cơ tim và triệu chứng đau thắt ngực (hình 1. Đau thắt ngực ổn định mạn tính có thể được chia thành ba nhóm chính: đau thắt ngực ổn định, đau thắt ngực do co thắt động mạch vành và đau thắt ngực do vi mạch. Đau thắt ngực ổn định xảy ra khi thiếu máu cục bộ cơ tim gây ra bởi hẹp cố định một hoặc nhiều động mạch vành thượng tâm mạc do xơ vữa động mạch [35].2 Cơ chế sinh lý bệnh của bệnh tim thiếu máu cục bộ Nguồn: Nature reviews.
Cardiology, 2018 [35] Trong một số trường hợp, đau thắt ngực có liên quan với co thắt động mạch vành và rối loạn chức năng chuyển hóa. Đau thắt ngực do co thắt động mạch vành xuất hiện khi thiếu máu cục bộ cơ tim, gây ra bởi co thắt động mạch vành có hoặc không có rối loạn chức năng nội mô. Đau thắt ngực do vi mạch đề cập đến trường hợp không. 5 có tắc nghẽn động mạch vành thượng tâm mạc.
Thiếu máu cục bộ cơ tim trong trường hợp này xảy ra do rối loạn chức năng vi mạch và/hoặc nội mô và viêm [35]. Tế bào cơ tim và thiếu máu cục bộ cơ tim được xem là trung tâm của mô hình sinh lý bệnh trong hội chứng mạch vành mạn, tất cả nguyên nhân bệnh học thúc đẩy tiến triển đến đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim cấp và đột tử do tim có thể được xem xét, bắt đầu từ xơ vữa động mạch gây tắc nghẽn nhưng cũng bao gồm viêm, rối loạn chức năng nội mô, rối loạn chức năng vi mạch, rối loạn chức năng tiểu cầu, huyết khối và rối loạn chức năng vận mạch. Các bệnh cảnh lâm sàng trên được phân loại thuộc hội chứng mạch vành mạn, nhưng liên quan với các biến cố tim mạch trong tương lai như: tử vong hoặc nhồi máu cơ tim; và nguy cơ của họ có thể thay đổi theo thời gian. Sự phát triển hội chứng mạch vành cấp có thể làm mất ổn định các tình huống lâm sàng này.
Nguy cơ có thể tăng do hậu quả của kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch không đầy đủ, điều chỉnh lối sống và/hoặc điều trị nội khoa không tối ưu, hoặc tái thông mạch vành không thành công. Ngược lại, nguy cơ có thể giảm do phòng ngừa thứ phát thích hợp và tái thông mạch vành thành công [56].3 Yếu tố nguy cơ Theo như nghiên cứu INTERHEART được nghiên cứu ở 52 quốc gia gồm Châu Phi, Châu Á, Úc, Châu Âu, Trung Đông, Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Nghiên cứu nêu ra tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành bao gồm 9 yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh can thiệp là hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, béo phì, chế độ ăn hoạt động thể lực, rượu và yếu tố tâm lý [85]. Hai yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá và rối loạn mỡ máu chiếm khoảng 2/3 trong số các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.
Những người hút thuốc lá ở tuổi 30 - 40 có tỉ lệ nhồi máu cơ tim cao hơn gấp 5 lần so với nhóm không hút thuốc lá. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành lên 30-50%, lượng thuốc hút cũng ảnh hưởng đến mức độ nguy cơ [5].4 Phân loại của hội chứng mạch vành mạn và các bệnh cảnh lâm sàng 1.1 Phân loại của hội chứng mạch vành mạn Đau thắt ngực ổn định, mạn tính: là thể bệnh thường gặp nhất và chiếm hơn 1⁄2 tổng số bệnh nhân. Vài bệnh nhân bị đau thắt ngực ổn định, mạn tính ghi nhận ràng họ có thể đoán trước được đau thắt ngực sẽ xuất hiện chỉ khi họ gắng sức vượt quá một ngưỡng nào đó và họ đã cố gắng tránh nó xảy ra. Đau ngực biến mất trong vòng 1-2 phút sau khi dừng gắng sức hoặc sau khi ngậm nitrate (dạng tác dụng nhanh) dưới lưỡi.
Ở những bệnh nhân này, ngưỡng đau ngực cố định đã gợi ý rằng tình trạng TMCT cục bộ được gây ra do tăng nhu cầu oxy quá mức khi sang thương hẹp động mạch vành cố định (đau ngực do gắng sức với ngưỡng cố định). Đau thắt ngực biến thái: do Prinzmetal xác lập từ 1959. Những bệnh cảnh lâm sàng sau đây gợi ý đau thắt ngực biến thái: • Đau thường xảy ra lúc nghỉ, không có nguyên nhân rõ ràng, thường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm hoặc là cùng giờ giấc. • Cơn đau thường ngắn: 2-5 phút và đáp ứng với nitrate ngậm dưới lưỡi trong vòng 1-2 phút.
• Cơn đau ngực có thể xảy ra thành từng nhóm 2-3 cơn vào những giờ sáng sớm và sau đó thì cả ngày không có cơn nào. • Cơn đau ngực có thể kèm ngất do có nhanh thất hoặc rung thất hoặc block nhĩ - thất hoàn toàn. • Nghiệm pháp gắng sức thường âm tính. Nếu có bệnh cảnh lâm sàng nghi ngờ như trên thì cố gắng tìm ST chênh lên trong lúc đau ngực bằng ECG 12 chuyển đạo lúc đau ngực hoặc dùng Holter ECG.
Chẩn đoán được xác định bằng chụp động mạch vành cho thấy có co thắt động mạch vành khi làm nghiệm pháp kích thích. Xét nghiệm bằng ergonovine có độ chuyên biệt cao nhưng độ nhạy cảm không cao còn xét nghiệm bằng ecatycholine thì có độ chuyên biệt không cao nhưng có độ nhạy cảm cao. Điều trị cần dùng ức chế calci, nitrate. 7 Hội chứng X: những bệnh nhân trong bệnh cảnh “đau ngực hỗn hợp” mạn tính, có ST thiếu máu chênh xuống và/hoặc khiếm khuyết tưới máu trong lúc làm nghiệm pháp gắng sức, nhưng lại có hình ảnh chụp động mạch vành bình thường, được xếp là hội chứng X.
Thiếu máu cơ tim yên lặng (TMCT mà không đau ngực): TMCT cục bộ không gây đau chỉ có thể được chẩn đoán bằng các kỹ thuật phát hiện TMCT và phụ thuộc hoàn toàn vào độ nhạy và độ chuyên biệt của chúng. Ghi điện tâm đồ liên tục cho thấy rằng 70% các cơn TMCT thoáng qua không gây đau ngực hoặc bất kỳ triệu chứng nào khác [2].2 Bệnh cảnh lâm sàng ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn ngoại trú Đau thắt ngực là triệu chứng thường gặp của bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn; tuy nhiên, bệnh nhân có thể không đau ngực mà có triệu chứng tương đương như khó thở hoặc không triệu chứng trong bệnh cảnh thiếu máu cục bộ cơ tim thầm lặng. Các bệnh cảnh lâm sàng thường gặp nhất ở các bệnh nhân hội chứng vành mạn là : (i) bệnh nhân được nghi ngờ bệnh động mạch vành và các triệu chứng đau thắt ngực ổn định và/hoặc khó thở; (ii) bệnh nhân với suy tim mới khởi phát hoặc rối loạn chức năng thất trái và nghi ngờ bệnh động mạch vành; (iii) bệnh nhân không triệu chứng và có triệu chứng với triệu chứng ổn định trong thời gian nhỏ hơn một năm sau hội chứng mạch vành cấp, hoặc bệnh nhân được tái thông mạch vành gần đây; (iv) bệnh nhân không triệu chứng và có triệu chứng trong thời gian lớn hơn một năm sau chẩn đoán ban đầu hoặc tái thông mạch vành; (v) bệnh nhân đau thắt ngực và được nghi ngờ bệnh vi mạch hoặc co thắt mạch vành; và (vi) các đối tượng không triệu chứng trong đó bệnh động mạch vành được phát hiện khi tầm soát [51].5 Phân mức độ đau thắt ngực ổn định Phân loại mức độ đau thắt ngực theo Hiệp hội Tim mạch Canada (Canadian Cardiovascular Society) vẫn được ứng dụng rộng rãi nhất, để định lượng ngưỡng mà các triệu chứng xảy ra liên quan đến các hoạt động thể lực (bảng 1.1 Phân độ đau thắt ngực Nguồn: Hiệp hội tim mạch Canada – CSS [19] Độ Đặc điểm Chú thích I Những hoạt động thể lực bình Đau thắt ngực chỉ xuất hiện khi hoạt thường không gây đau thắt ngực. động thể lực rất mạnh.
II Hạn chế nhẹ hoạt động thể lực bình Đau thắt ngực xuất hiện khi leo cao >1 thường. tầng gác thông thường bằng cầu thang hoặc đi bộ dài hơn 2 dãy nhà. III Hạn chế đáng kể hoạt động thể lực Đau thắt ngực khi đi bộ dài từ 1-2 dãy thông thường. nhà hoặc leo cao 1 tầng gác.
IV Các hoạt động thể lực bình thường Đau thắt ngực khi nghỉ ngơi đều gây đau thắt ngực.6 Điều trị Điều trị bao gồm điều trị nội khoa, quản lý chất lượng cuộc sống và tái thông mạch máu. Phòng ngừa các biến cố tim mạch gồm nhồi máu cơ tim và tử vong liên quan bệnh động mạch vành với các chiến lược can thiệp bằng thuốc và thay đổi lối sống đã được mô tả chi tiết trong hướng dẫn của Hội Tim châu Âu về dự phòng bệnh tim mạch trong thực hành lâm sàng năm 2016 [64]. Các chỉ định tái thông mạch máu ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn được khuyến cáo là các triệu chứng vẫn tồn tại mặc dù đã được điều trị thuốc tối ưu và / hoặc tiên lượng cải thiện nếu can thiệp [72]. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng: tái thông mạch máu bằng PCI hoặc CABG làm giảm đau thắt ngực hiệu quả hơn, giảm việc sử dụng thuốc đau thắt ngực và cải thiện khả năng gắng sức và chất lượng cuộc.
9 sống so với chiến lược điều trị thuốc đơn thuần trong thời gian theo dõi ngắn hạn và dài hạn (Bảng 1.