CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA THỊT Thịt là loại thực phẩm giàu đạm và dễ tiêu hóa, cung cấp nhiều loại axit amin không thay thế, rất cần thiết cho các hoạt động sống của cơ thể, giúp cho con người phát triển tốt về thể lực. Khi khẩu phần ăn có thịt sẽ no lâu hơn bởi vì chất béo lưu lại trong dạ dày sẽ làm chậm lại cảm giác trống rỗng của dạ dày.
Thành phần hoá học của thịt gồm có nước, protein, lipid, muối khoáng, các enzyme, các chất chứa đạm, không chứa đạm và các vitamin. Các chất trong thịt có tác dụng tạo ra mùi và vị đặc trưng cho thịt khi chế biến. Giá trị thực phẩm của thịt được xác định theo thành phần các chất có trong thịt, độ sinh học năng lượng, các đặc tính về mùi, vị và khả năng tiêu hoá của thịt. Thành phần hoá học của thịt ở một số loài vật nuôi được trình bày ở bảng 1.
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thịt một số loài vật nuôi Thành phần hóa học (g/100g) Loại thịt Nước Protein Lipid Khoáng Calo Bò 70,5 18 10,5 1 171 Lợn mỡ 47,5 14,5 37,5 0,7 406 Lợn (1/2 nạc) 60,9 16,5 21,5 1,1 286 Lợn nạc 73,0 19 7 1 143 Trâu 72,3 21,9 4,9 0,9 118 Gà 69,2 22,4 7,5 0,9 162 Vịt 59,5 17,8 2,8 0,9 276 (Nguồn: Phạm Văn Sổ và Bùi Thị Như Thuận) Nước chiếm tỷ lệ 72 - 75% trong thành phần hoá học của thịt. Nước tồn tại trong thịt dưới hai trạng thái: trạng thái tự do và trạng thái kết hợp. Dạng kết hợp chiếm 6 - 15% lượng nước trong thịt. Nước được kết hợp trong các cấu trúc hóa học của tế bào.
Phần còn lại tồn tại trong thịt ở trạng thái tự do nhờ áp suất thẩm thấu và PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 tính thấm hút của tế bào. Một lượng nước vừa phải sẽ tạo cho thịt mềm, dẻo, ngon đồng thời giúp cho việc bảo quản thịt bằng phương pháp đông lạnh được dễ dàng. Protein của thịt chiếm 18 - 21% và là phần hữu cơ cơ bản có giá trị nhất của thịt. Phụ thuộc vào cấu tạo và chức năng, protit được chia ra làm nhiều loại khác nhau.
Trong thịt, mỡ nằm thành từng thùy và thường tập trung xen kẽ giữa các mô cơ, ngoài ra mỡ còn tập trung ở dưới da, bao quanh các phủ tạng. Hàm lượng mỡ trong thịt phụ thuộc vào độ béo gầy của gia súc, thường chiếm tỷ lệ 1 - 3%. Các chất khoáng trong thịt chiếm 0,8 - 1,2%. Trong đó có rất nhiều nguyên tố vi lượng và đa lượng như: phospho (0,2 - 0,22%), kali (0,32 - 0,35%), natri (0,05 - 0,08%), magie (0,02 - 0,022%), canxi (0,01 - 0,012%), sắt (0,002 - 0,003%), kẽm (0,003 - 0,005%), ngoài ra còn có đồng, bo, chì, iot, mangan, coban, niken,.
Thịt động vật chứa nhiều loại vitamin với hàm lượng khác nhau: B1 (0,1 - 0,3%), B (0,1 - 0,3%), B6 (0,3 - 0,7%), PP (4,8%), B12 (0,002 - 0,008%), axit pantotenic (vitamin G), biotin (vitamin H) (1,5 - 3%), vitamin A (0,02%). Hàm lượng vitamin thay đổi theo mùa, tuổi gia súc, độ béo gầy, loại thức ăn. Khi chế biến ở nhiệt độ cao các vitamin thường bị phá hủy. Từ bảng thành phần hóa học có thể nhận biết giá trị của từng loại thịt, ví dụ thịt lợn, thịt vịt nhiều mỡ, thịt bò, gà nhiều protein… Thân thịt bao gồm những thành phần chính sau: Mô cơ, mô liên kết, mô mỡ, mô xương, mô máu và lâm ba.
Mô cơ là mô có giá trị thực phẩm cao nhất. Khi động vật còn sống, mô cơ thực hiện các chức năng vận động để phục vụ các hoạt động sống, các quá trình sinh lý như tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, tiết niệu,. Mô cơ chiếm khoảng 40 - 58% ở lợn, 49 - 58% ở cừu và 57 - 62% ở trâu bò (theo khối lượng thịt xẻ), cơ được cấu tạo từ sợi cơ, là các tế bào đa nhân có khả năng co giãn theo chiều dài. Thành phần hóa học trung bình của mô cơ động vật lấy thịt như sau: Nước: 72 - 75%, protein: 18,5 - 22%, lipid: 2 - 4%, khoáng: 1 - 1,4%, chất trích ly: 2 - 2,8%, ngoài ra còn có một lượng nhỏ men và vitamin.
Mô mỡ là thành phần quan trọng thứ hai của thân thịt. Lượng mô mỡ trong thân thịt phụ thuộc vào loài động vật, tuổi, độ béo gầy của gia súc và có sự dao động tương đối lớn. Ở trâu bò mô mỡ chiếm 1,5 - 10,1%, cừu 0,6 - 7,5%, lợn 12,5 - 40% hoặc nhiều hơn. Mô mỡ được tạo thành từ các tế bào có kích thước khác nhau được xếp thành từng nhóm và tạo nên các thùy mỡ bao quanh các mô liên kết.
Mô liên kết làm nhiệm vụ liên kết và chống đỡ. Mô liên kết được tạo thành từ colagen, elastin và một lượng nhỏ các protit khác. Chúng thường không có giá trị dinh dưỡng. Protein của mô liên kết là loại protein không hoàn thiện, khó tiêu hoá, nhóm PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 này làm cho bộ xương cử động bằng cách tạo ra sự co giãn ở nhóm protein dạng sợi.
Chức năng này đòi hỏi protein mô liên kết phải bền và mạnh, các loại protein collagen, reticulin, muxin thường chiếm tỷ lệ cao trong mô liên kết. Colagen và Elastin là 2 protein chiếm trên 50% lượng protein của khung.2 trình bày thành phần các loại mô có trong thịt của một số loài động vật nuôi phổ biến hiện nay. Thành phần các loại mô có trong một số loại thịt Loại mô Thịt bò (%) Thịt lợn (%) Thịt cừu (%) Mô cơ 57 – 62 40 - 58 49 - 58 Mô mỡ 3 – 16 15 - 46 4 - 18 Mô liên kết 9 – 12 6 -8 7 - 11 Mô xương sụn 17 – 29 8 - 18 18 - 38 Mô máu 0,8 - 1,0 0,6 - 0,8 0,8 - 1,0 Số liệu bảng 1.2 cho thấy mô cơ chiếm một tỷ lệ lớn trong thịt của các loài vật nuôi khác nhau. Các mô còn lại chiếm tỷ lệ ít hơn, trong đó mô máu là thành phần chiếm tỷ lệ thấp nhất.
MỨC TIÊU CHUẨN CHO PHÉP CỦA E. COLI VÀ CÁC LOẠI VI KHUẨN CHỈ ĐIỂM VỆ SINH TRONG THỊT TƯƠI Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7046:2002), về thịt tươi thì thịt cần phải đảm bảo một số tiêu chuẩn sau: Bảng 1. Chỉ tiêu vi sinh vật của thịt tươi Tên chỉ tiêu Giới hạn tối đa 1. Tổng số VSV hiếu khí, số khuẩn lạc trong 1g sản phẩm 106 2.
coli, số vi khuẩn trong 1g sản phẩm 102 3. Salmonella, số vi khuẩn trong 25g sản phẩm 0 4. cereus, số vi khuẩn trong 1g sản phẩm 102 5. Staphylococcus aureus, số vi khuẩn trong 1g sản phẩm 102 6.
Clostridium perfringens, số vi khuẩn trong 1g sản phẩm 10 7. Clostridium botulinum, số vi khuẩn trong 1g sản phẩm 0 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Mức tiêu chuẩn cho phép vi khuẩn E. coli và các vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh thú y hiện diện trên thịt phản ánh mức độ nhiễm khuẩn liên quan đến vấn đề ngộ độc và an toàn thực phẩm. CÁC BIẾN ĐỔI CỦA THỊT SAU GIẾT MỔ Sự hư hỏng của thịt chủ yếu gồm hai quá trình diễn ra song song: Quá trình tự phân giải (các phản ứng sinh hoá) và quá trình ôi thiu (sự phân huỷ của vi sinh vật).
Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong việc xác định phẩm chất thịt trước, trong và sau khi giết mổ. Nó là một trong những nguyên nhân gây hư hỏng và biến chất thịt cũng như gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm. Sau khi giết mổ những tính chất cơ bản của thịt đều thay đổi do sự phân hủy các hệ sinh học khi còn sống. Nguyên nhân của sự phân hủy này là do sự trao đổi chất trong các mô chết ngừng lại, các quá trình hóa sinh thuận nghịch bởi enzyme chuyển thành quá trình không thuận nghịch.
Các quá trình tổng hợp bị đình chỉ và hoạt động phá hủy của các enzyme nổi lên hàng đầu, chính là sự tự phân hủy (còn gọi là sự tự phân), đó là tập hợp của các giai đoạn nối tiếp nhau. Đình chỉ trao đổi chất, phân hủy các mối liên kết cấu tạo thành các mô, phân hủy các chất, chính thành các chất đơn giản hơn. Sau khi giết mổ Ngay sau khi giết mổ, mô cơ thịt tươi nóng bị suy yếu dần, độ ẩm giảm, pH giảm, mùi thơm và vị thể hiện không rõ ràng. Khoảng 1,5 - 3 giờ sau khi chết sự tê cóng sẽ bắt đầu.
Tê cóng là kết quả của sự phát triển các quá trình hóa sinh phức tạp do enzyme mà đặc trưng của nó khác với các quá trình sống. Sau 3 giờ giết mổ cơ mất tính đàn hồi và phần nào có sự co ngắn của mô cơ. Độ rắn tăng khoảng 25%, độ cản cắt tăng gấp 2 lần khi sự tê cóng diễn ra hoàn toàn. ATP giảm, pH giảm, độ ẩm thịt giảm khoảng 25% so với độ ẩm ban đầu.
Khi chế biến nhiệt thịt rắn, mùi thơm và vị không rõ ràng, nước luộc đục. Có khả năng tiêu hóa bởi men pepsin kém. Nguyên nhân của các biểu hiện trên là do ngừng cung cấp oxy vào tế bào, quá trình năng lượng hiếu khí bị suy giảm, chỉ còn tồn tại quá trình trao đổi năng lượng kỵ khí, đó là quá trình phân giải glycogen bằng con đường phosphoril hóa với sự tham gia của ATP làm cho trị số pH của thịt giảm xuống, sau khi động vật chết, dưới tác dụng của các enzyme có trong mô cơ các phosphat hữu cơ bị phân giải mạnh. Dưới sự ảnh hưởng của adenozintriphosphataza của miozin, ATP bị phân hủy tạo thành ADP và phospho vô cơ tự do.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Sự chín tới của thịt Sự chín tới là tập hợp những biến đổi về tính chất của thịt gây nên bởi sự tự phân sâu sắc, kết quả là thịt có những biểu hiện tốt về hương thơm và vị, thịt trở nên mềm, dễ tiêu hóa hơn. Đặc trưng của sự chín tới của thịt là thịt mềm từ từ, tích tụ mùi thơm, khi luộc thịt mềm, màu sáng, nước luộc trong, actimiozin phân li thành actin và miozin. Nguyên nhân là do sự biến đổi tự phân sau thời kỳ tê cóng do tác dụng của enzyme phân giải protein thuộc nhóm catepsin chứa tương đối ít trong mô cơ. Sau khi tê cóng đạt mức độ cực đại, người ta thấy phần lớn actomiozin chuyển sang trạng thái suy yếu và bắt đầu có sự phân ly nó thành actin và miozin.