phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận được kết cấu thành năm chương với nội dung như sau: CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Nêu tính cấp thiết của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và kết cấu của đề tài. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN KẾT CÁC THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN Tóm tắt một số lý thuyết về hội nhập kinh tế và hội nhập tài chính để làm cơ sở đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9 Tóm tắt và giải thích mô hình hồi quy sẽ sử dụng để phân tích và đánh giá kết quả phân tích dữ liệu. CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ ƢỚC LƢỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trình bày sơ lược về thị trường chứng khoán các quốc gia ASEAN và tiến hành phân tích lần lượt các mẫu dữ liệu đã chọn theo quy trình ước lượng và kiểm định mô hình đã lựa chọn ở chương 3.
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ GỢI Ý PHƢƠNG HƢỚNG DỰNG CH NH SÁCH Dựa trên các kết quả phân tích, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp, đối chiếu và rút ra ý nghĩa thực tế và kết luận về vấn đề nghiên cứu. Đồng thời đề xuất phương án thiết lập chính sách với mục đích xây dựng hệ thống tài chính vững mạnh và phù hợp với tình hình hội nhập tài chính nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung của Việt Nam hiện nay. 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN KẾT CÁC THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN Trong thế giới hiện đại, cùng với sự thay đổi bản chất xã hội của lao động và mối quan hệ giữa con người, hội nhập quốc tế trở thành một quá trình phát triển tất yếu. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường chính là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập.
Hội nhập được diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, dưới nhiều hình thức, cấp độ và theo tiến trình từ thấp đến cao. Vấn đề hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại và đã tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế cũng như đời sống của từng quốc gia. Tổng quan về hội nhập quốc tế 2. Khái niệm hôi nhập quốc tế Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng Anh là “international integration” và tiếng Pháp là “intégration internationale”.
Khái niệm này được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức – Pháp) từ khoảng giữa thế k trước ở châu Âu, nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu. Trên thực tế đến nay, khái niệm “hội nhập quốc tế” có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau. Chung quy, có ba quan điểm chủ yếu sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng hội nhập (integration) là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình. Và sản phẩm đó chính là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ.
Những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế để đánh giá sự liên kết. Quan điểm này được xem là có nhiều hạn chế vì nó không đặt hiện tượng hội nhập trong quá trình phát triển mà chỉ nhìn nhận (chủ yếu về khía cạnh luật định và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùng gắn với mô hình Nhà nước liên bang. Vì vậy rất khó áp dụng cách tiếp cận này để phân tích và giải thích thực tiễn của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau trên thế giới hiện nay. Không phải bất cứ sự hội nhập nào cũng dẫn đến việc hình thành một Nhà nước liên bang.
11 Quan điểm thứ hai, với Karl W. Deutsch, hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua việc phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thông tin, thư tín, di trú, du lịch, văn hóa… từ đó dần hình thành các cộng đồng an ninh (security community). Theo Deutsch, cộng đồng an ninh được phân thành hai loại bao gồm loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ và loại cộng đồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu. Như vậy, hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng khi tiếp cận theo cách thứ hai này.
Điểm mạnh của cách tiếp cận này là đã nhìn nhận hiện tượng hội nhập vừa trong quá trình tiến triển vừa trong trạng thái tĩnh cuối cùng và đồng thời cũng đưa ra được những nội dung khá cụ thể, sát thực tiễn của quá trình hội nhập nhằm góp phần phân tích và giải thích nhiều vấn đề của hiện tượng này. Quan điểm thứ ba xem xét hội nhập ở góc độ là hiện tượng/hành vi các nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau dựa trên cơ sở phân công lao động quốc tế một cách có chủ đích dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi. Quan điểm thứ ba tập trung vào hành vi của hiện tượng mà không quan tâm xem xét góc độ thể chế cũng như kết quả cuối cùng của hội nhập. Do đó cách tiếp cận này thiếu tính toàn diện và hạn chế trong khả năng giải thích bản chất của quá trình hội nhập.
Ở Việt Nam, thuật ngữ „hội nhập kinh tế quốc tế” đã bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cũng như các thể chế kinh tế quốc tế khác. Như vậy, hội nhập quốc tế đƣợc hiểu là quá trình các nƣớc tiến hành các hoạt động tăng cƣờng sự gắn kết với nhau dựa trên việc chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, nguồn lực, giá trị, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (là hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau và không chống đối nhau), hội nhập quốc tế đã vƣợt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thƣờng: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ 12 luật cao của những chủ thể tham gia. Khi nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, hay thậm chí là các chủ thế mới của quan hệ quốc tế.
Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các quốc gia, là chủ thể chính của quan hệ quốc tế có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế. Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Các lĩnh vực hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội, an ninh – quốc phòng,.) nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi và hình thức rất khác nhau, cụ thể như sau: Hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế dựa trên những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, từ tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực đến toàn cầu. Hội nhập kinh tế cũng có thể diễn ra với nhiều mức độ.
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau. Tuy nhiên về cơ bản đều phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định (chẳng hạn như Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60 – 70). Hội nhập kinh tế được xem là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của vấn đề hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và được các nước ưu tiên thúc đẩy như một đòn bẩy cho sự hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hội nhập chính trị Hội nhập về chính trị là việc các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) để theo đuổi các mục tiêu nhất định đồng thời hành xử 13 cho phù hợp với những luật chơi chung.
Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó các nước sẽ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (ý thức hệ, tư tưởng chính trị), lợi ích, mục tiêu, nguồn lực và đặc biệt là quyền lực. Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị thì liên kết giữa các thành viên với nhau còn nhiều hạn chế, các thành viên về cơ bản vẫn giữ thẩm quyền định đoạt các chính sách riêng. Hiện nay ASEAN vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập chính trị nên rõ ràng vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt và độ tin cậy giữa các thành viên còn rất hạn chế. Về mặt tổ chức quyền lực, ASEAN chính là một khuôn khổ liên chính phủ.
Một khi hoàn tất việc xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột bao gồm Cộng đồng Chính trị – An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội sẽ giúp tăng cường quá trình hội nhập chính trị trong ASEAN, điều này sẽ tạo điều kiện để ASEAN có thể bước đến một giai đoạn hội nhập cao hơn. Ở giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tin cậy của các thành viên một cách hoàn toàn. Các thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao hết các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia về mặt tổ chức quyền lực. Điển hình như Liên minh châu Âu (EU) hiện nay được xem là một mô hình hội nhập chính trị cao.