LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài “Ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đã làm thay đổi môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp, sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ không chỉ ở tầm quốc gia mà còn trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, đối với các ngành thương mại dịch vụ thì không những phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ mà cả chất lượng phục vụ cũng đòi hỏi ngày càng cao. Tất cả những điều này đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với ngành ngân hàng thương mại, khi mà nhiều ngân hàng lựa chọn giải pháp thu hút thật nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ mà quên mất việc giữ chân khách hàng hiện có của mình, Techcombank cũng không ngoại lệ.” Khác với các NHTMCP khác, NH Techcombank phân chia chi nhánh thành ba loại: Siêu chi nhánh, Chi nhánh đa năng và Chi nhánh chuẩn. Mỗi chi nhánh sẽ hoạt động theo từng nhóm đối tượng khách hàng khác nhau.
Siêu chi nhánh của Techcombank sẽ bao gồm huy động, tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp. Chi nhánh đa năng là nhóm chi nhánh tập trung vào hai lĩnh vực huy động và tín dụng cá nhân. Và nhóm cuối cùng- nhóm Chi nhánh chuẩn thì sẽ tập trung duy nhất vào hoạt động huy động vốn. Techcombank- Lạc Trung là chi nhánh thuộc nhóm 3 trong ba nhóm chi nhánh trên, chi nhánh chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng cá nhân, không có nhiều nguồn data khách hàng như nhóm siêu chi nhánh và chi nhánh đa năng.
Do vậy hoạt động HĐTG là hoạt động sống còn của CN. Chi nhánh muốn được tồn tại và phát triển thì yêu cầu chất lượng hoạt động huy động vốn phải được nâng cao, để làm được điều này thì việc nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng phải được đặt lên hàng đầu như vậy thì sẽ giúp cho chi nhánh đạt được mục tiêu giữ KH cũ và phát triển thêm KH mới. 2 Với đặc điểm nằm trên địa bàn Phố Lạc Trung, là một phố hội tụ rất nhiều PGD và CN của các NH khác cũng là một trở ngại đối với chi nhánh Lạc Trung khi mà lãi suất HĐTG của Techcombank thực sự là không cạnh tranh với các NH TMCP khác. Vì vậy, điều gì có thể tạo nên sự khác biệt cho Techcombank- CN Lạc Trung- đó chính là CLDV của NH, mấu chốt là nâng cao MĐHL của KH, khiến mọi KH đều trở thành KH trung thành của TCB- CN Lạc Trung.
“Việc mang lại cho KH sự thỏa mãn tốt nhất, giữ chân KH lâu năm và thu hút được những KH mới đến gửi tiền tại NH là điều mà các NH luôn thực hiện hết sức năng lực của mình. Do đó, việc tìm hiểu MĐHL của KH đối với NH là một việc quan trọng phải thực hiện để có thể đáp ứng kịp thời mong muốn của họ. Điều này sẽ giúp cho NH phục vụ KH tốt hơn, giúp họ thỏa mãn khi sử dụng các sản phẩm DVNH- đặc biệt là HĐTG.” 2 Tổng quan nghiên cứu 2. Các kết quả nghiên cứu nước ngoài “Nâng cao CLDV là vấn đề đặt ra cho tất cả các NH, nhất là trong bối cảnh các NH, các TCTC ngày càng cạnh tranh gay gắt trong một TTTC sôi động.
Khi nói tới một NH hiện đại, người ta nghĩ ngay tới một NH có nền tảng CNTT mạnh, sản phẩm DV đa dạng, hiện đại, có khả năng phục vụ KH ở mọi điều kiện.” “Al-Hawari et al (2008) đã khẳng định rằng KH của NH có xu hướng sử dụng một sự kết hợp của các kênh DV tự động. Vì vậy, Al-Hawari et al đã phát triển một mô hình toàn diện về CLDV NH tự động có nhắc đến các thuộc tính của từng kênh phân phối và các yếu tố khác có tác động đến vấn đề chất lượng. Al-Hawari et al nghiên cứu CLDV tự động của DVNH được KH cảm nhận dựa trên 5 dịch vụ đề xuất như sau: dịch vụ ATM, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, các dịch vụ ngân hàng cốt lõi và cảm nhận về giá của khách hàng. Mô hình được kiểm định bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA).
Tất cả 5 nhân tố đều có tính đơn hướng, độ tin cậy, giá trị hội 3 tụ, giá trị phân biệt và giá trị tiêu chuẩn liên quan cao. Hơn nữa, CFA và các tiêu chí có chỉ số cao hơn so với yêu cầu. Do đó, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ tự động của ngân hàng cấu thành từ 5 yếu tố sau: dịch vụ ATM, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, chất lượng dịch vụ cốt lõi và chất lượng về giá.” “Nartch (2013) đã nghiên cứu CLDV ATM tại các NH ở Ghana: Nghiên cứu đã xác định các thành phần CLDV của ATM và nhận thức của KH về tầm quan trọng của các thành phần. Tác giả Nartch thực hiện thu thập từ 530 KH sử dụng máy ATM của 15 NH ở Ghana.
Thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định cũng như hồi quy được sử dụng để xác định mức độ tác động của thành phần CLDV ATM. Kết quả nghiên cứu xác định 5 thành phần của mô hình “ATMqual” theo mức độ quan trọng như sau: độ tin cậy, sự thuận tiện, sự đáp ứng, tính dễ sử dụng và sự thi hành. Các kết quả nghiên cứu trong nước “Trong vấn đề kiểm soát chất lượng theo xu hướng tân tiến, với tiêu chí KH là trọng tâm. Yếu tố gây ảnh hưởng đến sự sinh tồn và tăng trưởng của một DN là sự hài lòng của KH về chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà DN cung ứng.
Điều này sẽ đánh giá bởi chính KH chứ không phải bởi DN. Đối với NHTM cũng vậy, để cải thiện độ hài lòng của KH, các NHTM phải không ngừng đo lường và cải tiến chất lượng dịch vụ để giữ khách hàng cũ và thu thút thêm khách hàng mới. Trong sự cạnh tranh ngày một gay gắt hiện nay, các NHTM phải cải tiến CLDV, trang thiết bị, vốn, đội ngũ cán bộ,… đặc biệt là dịch vụ huy động tiền gửi để thu hút khách hàng. Bởi dịch vụ huy động tiền gửi là một trong những nghiệp vụ tạo điều kiện và tiền đề cho hoạt động của NHTM.
Vì vậy, cần tiến hành phân tích, đánh giá MĐHL của KH về sản phẩm dịch vụ của NHTM để biết được KH có suy nghĩ thế nào, biết được những điểm mạnh cần phải phát huy và những điểm yếu cần được thay đổi. Đã có nhiều công trình khoa học 4 trong nước về mức độ hài lòng đối với các DV nói chung và DV HĐTG nói riêng của các NHTM, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:” Hoàng Xuân Bích Loan (2008), Nâng cao sự hài lòng của khách hàng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP HCM. Tác giả đã đề cập đến một số lý thuyết về NHTM và các DV của NH; Mức độ hài lòng của KH và các nhân tố ảnh hưởng; Các mô hình nghiên cứu sự hài lòng của KH. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích, đánh giá sự hài lòng của khách hàng tại BIDV chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua đó, tác giả đã xác định các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của KH, đánh giá một cách khách quan nhu cầu KH cũng như CLDV tại BIDV - CN TP HCM. Luận văn cũng cho thấy để tạo ra sự hài lòng cho KH thì độ tin cậy và CLDV có ý nghĩa thống kê và cùng chiều với mức độ hài lòng của KH. Luận văn cũng đã gợi ý một vài giải pháp để tăng hiệu quả hoạt động của NH và cho KH luôn cảm thấy thỏa mãn khi đến NH. Trần Diệu Tuyết Hoa (2009), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của KHCN khi giao dịch tiền gửi tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố HCM.
Luận văn đã chỉ ra năm yếu tố của thang đo SERVPERF đã được sắp xếp lại thành 4 yếu tố: “tính cảm thông”, “phương tiện hữu hình”, “tính đáp ứng”, “tính cạnh tranh”. Sau khi thực hiện phân tích hồi qui tuyến tính có R2 = 0,052 và biến phụ thuộc là sự hài lòng của KH theo hai biến độc lập là “tính cảm thông” và “phương tiện hữu hình”. Đinh Phi Hổ (2009), Mô hình định lượng đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng ứng dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại, Đề tài nghiên cứu khoa học, Tạp chí Nghiên cứu - Trao đổi số 26. Thông qua các kiểm định của mô hình hồi qui, đề tài đã cho biết các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của KH là sự đảm bảo- đáp ứng và phương tiện hữu hình.
Để nâng cao khả năng đáp ứng sự hài lòng cho KH, các NHTM cần tập trung hoàn thiện các yếu tố: cơ sở 5 vật chất- trang thiết bị, trang phục cho nhân viên, thời gian và sự an toàn giao dịch, thuận tiện rút tiền, giữ đúng hẹn và cách thức phục vụ của nhân viên giao dịch khách hàng. Trương Thị Hoàng Oanh (2012), Nâng cao sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Huế. Đề tài đã tiến hành khảo sát 170 KH đang sử dụng DV tín dụng tại Chi nhánh. Mức hài lòng của KH được xem xét theo thang điểm Likert từ 1 là “Rất không đồng ý” đến 5 là “Rất đồng ý”.
Nguồn số liệu khảo sát đã được xử lý trên phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của KH khi vay vốn tại Chi nhánh, đó là: “mức độ đồng cảm”, “mức độ tin cậy”, “năng lực phục vụ”, “phương tiện hữu hình” và “mức độ đáp ứng”, trong đó “mức độ đáp ứng” là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến độ hài lòng của khách hàng. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số phương án giúp Chi nhánh nâng cao sự hài lòng của KH, thỏa mãn sự mong đợi của khách hàng và tăng khả năng thu hút khách hàng mới. “Phạm Thị Ánh Nguyệt (2015), Sử dụng mô hình SERVPERF đánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng thẻ ATM tại NHTMCP Kỹ thương Việt nam CN Nội bài, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Trường ĐHQGHN.