Chương 1: Giới thiệu về đề tài. Trong chương này, tác giả giới thiệu về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi của đề tài. Chương 2: Một số bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về định dưới giá IPO, về kết quả dài hạn và các nhân tố ảnh hưởng. Trong chương này, tác giả trình bày các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề định dưới giá IPO, kết quả dài hạn của các cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc định dưới giá IPO.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của đề tài. Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong đề tài. 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu của đề tài. Trong chương này, tác giả thực hiện kiểm định để xác định mức độ định dưới giá, các nhân tố ảnh hưởng đến việc định dưới giá IPO, đồng thời kiểm định kết quả dài hạn của các cổ phiếu IPO trong mẫu.
Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỊNH DƯỚI GIÁ IPO, KẾT QUẢ DÀI HẠN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 2.1 Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về định dưới giá IPO và các lập luận giải thích 2.1 Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về định dưới giá IPO: Một cổ phần được định giá thấp được hiểu là giá của nó thấp hơn giá trị nội tại của cổ phiếu (giá trị dựa trên các yếu tố cơ bản), có nghĩa là phần trăm chênh lệch giữa giá trị nội tại với giá phát hành. Tuy nhiên, việc xác định giá trị nội tại rất khó khăn nên thực tế thì việc xác định một chứng khoán bị định dưới giá được tính toán dựa vào phần trăm chênh lệch giữa giá IPO được bán cho các nhà đầu tư và giá mà các cổ phiếu này đang được giao dịch ngày đầu tiên trên thị trường.
Sau đó, có thể điều chỉnh cho tỷ suất sinh lợi của thị trường. Bằng chứng từ nhiều thị trường trên thế giới cho thấy tồn tại việc định dưới giá trong các đợt IPO và mức độ định dưới giá thay đổi theo từng quốc gia. Ritter (2002), trong một mẫu nghiên cứu 334 mã chứng khoán IPO trên thị trường Hồng Kông cho biết tỷ suất sinh lợi ban đầu đã được đo lường bằng 15.9%, so sánh với 15.3% tại Ấn Độ và 164.9% tại Trung Quốc. Ritter (2003) đưa ra bằng chứng về hiện tượng định dưới giá ở 38 quốc gia, trong đó Trung Quốc có tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên là 256,9%, Malaysia là 104,1%, Mỹ là 18,4% và Anh là 17,4%.1 cho thấy mức độ định dưới giá ở các quốc gia Châu Á cao hơn nhiều so với Mỹ.1 Tỷ suất sinh lợi ngày giao dịch đầu tiên của 38 quốc gia Nguồn Jay R.
Ritter (http:// http://bear.edu/ritter/publ_papers) Theo nghiên cứu của Loughran và Ritter (2004) về hiện tượng định dưới giá ở Vương Quốc Anh trong giai đoạn 1980 - 2009, kết quả cho thấy, trong 7 những năm 1980, tỷ suất sinh lợi bình quân trong ngày đầu tiên phát hành ra công chúng là 7%. Tăng gấp đôi lên gần 15% trong giai đoạn 1990-1998, trước khi nhảy lên 65% trong những năm bong bóng Internet 1999-2000 và sau đó quay trở lại 12% trong giai đoạn 2001-2003. Nhiều nghiên cứu về mức độ định dưới giá được thực hiện ở một số thị trường mới nổi trên thế giới cũng tìm thấy bằng chứng về định dưới giá. Dawson (1987) tìm thấy rằng tỷ suất sinh lợi ngày đầu trung bình của 21 vụ IPO tại Hồng Kông là 13,8%, tỷ suất sinh lợi ngày đầu trung bình của 39 vụ IPO ở Singapore là 39,4%, tỷ suất sinh lợi ngày đầu trung bình của 21 vụ IPO ở Malaysia là 166,6% trong giai đoạn từ 1978-1983.
Loughran và cộng sự (1994) đưa ra bằng chứng về hiện tượng định dưới giá ở 25 quốc gia với tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên của Hồng Kông là 17,6%, tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên của Nhật là 32,5%, tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên của Hàn Quốc là 78,1% và của Đài Loan là 45%. Yong (1997) tìm ra rằng tỷ suất sinh lợi ngày đầu trung bình của 224 vụ IPO ở Malaysia giai đoạn 1990-1994 là 75%. Sullivan và Unite (2001) nghiên cứu 104 vụ IPO của Philipine giai đoạn 1987-1997 cũng tìm thấy tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên là 22,7%. Frank và cộng sự (2007) xem xét mẫu 321 vụ IPO ở Anh giai đoạn 1995-1997 với tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên là 11,5 % và mức độ định dưới giá là 8,59%.
David Chambers và Elroy Dimson (2009) nghiên cứu 4.540 vụ IPO của Anh giai đoạn 1917-2007 có tỷ suất sinh lợi trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên là 14,57%. Boudriga và cộng sự (2009) nghiên cứu một mẫu 34 vụ 8 IPO ở Tunisia giai đoạn 1992 đến 2008 và tìm thấy tỷ suất sinh lợi trung bình trong ba ngày giao dịch đầu tiên lần lượt là 16,07 %, 16. Samarakoon (2010) cung cấp bằng chứng cho thấy mức độ định dưới giá trung bình của 105 vụ IPO ở Sri Lankan là 34%. Tian (2011) tìm thấy mức độ định dưới giá trung bình của Trung Quốc là 247% giai đoạn 1992-2004.
Adjasi và cộng sự (2011) nghiên cứu mức độ định dưới giá trung bình của 55 vụ IPO ở thị trường mới nổi Nigeria có tỷ suất sinh lợi vượt trội trong ngày giao dịch đầu tiên là 43,28%. Thị trường Mỹ là một trong những thị trường năng động nhất trên thế giới về số lượng công ty lên sàn và lượng vốn IPO huy động được. Ritter (2013) ) nghiên cứu 7.704 vụ IPO của Mỹ giai đoạn 1980-2012 có tỷ suất sinh lợi trong ngày giao dịch đầu tiên là 17,9%. Mức độ định dưới giá trung bình trong khoảng thời gian này vào khoảng 10% đến 20% và biến động mạnh theo thời gian.2 cho thấy có sự biến động mạnh tỷ suất sinh lợi theo thời gian.
Mức độ định dưới giá ở Mỹ năm 1999 là cao nhất với tỷ suất sinh lợi trong ngày giao dịch đầu tiên của 71% và thấp nhất vào năm 1984 với tỷ suất sinh lợi ngày giao dịch đầu tiên là 3,2%. Có thể thấy việc định dưới giá các phát hành lần đầu ra công chúng là phổ biến ở các thị trường, tuy nhiên mức độ định dưới giá là dao động đáng kể giữa các thị trường. Như vậy, có thể do các yếu tố mang tính đặc thù của từng thị trường (điều kiện thị trường, cơ chế định giá, mức độ bất cân xứng thông tin, độ trễ của thời gian niêm yết, đặt trưng về sở hữu, , .) chi phối mức độ định dưới giá của các cổ phiếu IPO.2 Tỷ suất sinh lợi ngày giao dịch đầu tiên các vụ IPO tại Mỹ giai đoạn 1980-2012. Ritter (http://bear.edu/ritter/IPOs2012Statistics.2 Các lập luận cho việc định dưới giá IPO Kể từ khi Ibbotson (1975) ghi nhận phần lớn các sự kiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng bị định dưới giá, việc giải thích hiện tượng trên trở nên hấp dẫn các nhà nghiên cứu.
Cái giá phải trả của người chiến thắng Rock (1986) đã đưa ra mô hình được biết đến nhiều nhất đó là mô hình thông tin bất cân xứng “Winner’s curse” (Cái giá phải trả của người chiến thắng). Rock cho rằng nhà đầu tư được chia thành hai loại đó là nhà đầu tư có thông tin và nhà đầu tư không có thông tin. Những nhà đầu tư có thông tin sẽ không tham gia vào những cuộc IPO bị định giá cao làm cho nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ dễ dàng mua được những cổ phiếu bị định giá cao. Với mức giá không hấp dẫn, những nhà đầu tư không có thông tin nhận được tất cả cổ phần mà họ mua.
Trong khi, với một mức giá hấp dẫn thì họ chỉ sẽ nhận được một tỷ lệ nào đó. Vì vậy, lợi nhuận của những nhà đầu tư không có thông tin phụ thuộc vào số cổ phần mà họ nhận được và sẽ thấp hơn tỷ suất sinh lợi trung bình. Trong trường hợp xấu nhất, những nhà đầu tư không có thông tin hoàn toàn không nhận được cổ phiếu nào khi IPO dưới giá và nhận được 100% khi IPO trên giá. Những nhà đầu tư không có thông tin sẽ không sẵn lòng mua cổ phiếu IPO khi tỷ suất sinh lợi mong đợi bị âm, vì vậy thị trường IPO chỉ phổ biến với những nhà đầu tư có thông tin.
Rock cho rằng thị trường sơ cấp phụ thuộc vào sự tiếp tục tham gia của những nhà đầu tư không có thông tin. Điều này có thể dẫn đến sự lựa chọn bất lợi. Nói cách khác, tất cả các cuộc IPO phải được định dưới giá để giảm cái giá phải trả của người chiến thắng hoặc để thu hút những nhà đầu tư thiếu thông tin. 11 Beatty và Richer (1986) cho rằng, khi các nhà đầu tư mua cổ phiếu IPO, điều họ quan tâm nhất đó là hiệu quả đầu tư trong tương lai của cổ phiếu đó.
Tuy nhiên hiệu quả đầu tư trong tương lai là điều không chắc chắn. Họ tin rằng sự không chắc chắn trong tương lai của cổ phiếu càng cao thì chi phí để có thông tin càng lớn. Vì vậy việc định dưới giá khi IPO như là một khoản tiền bù thêm về thông tin hiệu quả đầu tư trong tương lai cho nhà đầu tư. Quan điểm này được các quốc gia trên thế giới đồng tình và vì thế quan điểm này trở thành một trong những lý giải rõ ràng nhất về nguyên nhân định dưới giá IPO.
Vấn đề đại diện Baron (1982) đưa ra lý thuyết về vấn đề đại diện giữa công ty phát hành và nhà bảo lãnh phát hành. Vấn đề đại diện xảy ra khi nhà bảo lãnh của ngân hàng đầu tư biết nhiều thông tin hơn về thị trường vốn và giá phân phối so với công ty phát hành. Công ty phát hành và ngân hàng đầu tư đồng ý rằng hợp đồng phát hành IPO sẽ được dựa trên báo cáo của ngân hàng đầu tư về giá trị của công ty. Hợp đồng này phải đáp ứng điều kiện mỗi bên đặt ra.
Thứ nhất, giá hợp đồng phải đáp ứng mức tối thiểu về lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng đầu tư. Thứ hai, giá IPO phải đủ thấp để đem lại lợi ích tốt nhất cho công ty phát hành.