Lời mở đầu Phần 2: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định vay margin của khách hàng cá nhân tại CTCK Trí Việt Phần 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay kí quỹ của khách hàng cá nhân tại CTCK Trí Việt Phần 4: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay kí quỹ của khách hàng cá nhân tại CTCK Trí Việt và đưa ra khuyến nghị Phần 5: Kết luận 3 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH VAY MARGIN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI DOANH NGHIỆP 2. Những vấn đề cơ bản về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay margin của khách hàng cá nhân tại công ty chứng khoán 2. Khái niệm và đặc điểm giao dịch kí quỹ 2. Khái niệm giao dịch kí quỹ Giao dịch kí quỹ theo PGS.
Tô Kim Ngọc và PGS. Nguyễn Thanh Phương (2015) định nghĩa là giao dịch mua bán chứng khoán của khách hàng có sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán và sử dụng các chứng khoán khác có trong tài khoản và chứng khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố với kì vọng giá chứng khoán có xu hướng tăng lên trong tương lai. Các CTCK sẽ cung cấp các dịch vụ cho vay tới những khách hàng có nhu cầu mua bán chứng khoán trong trường hợp làm tăng đòn bẩy cũng như tăng vốn để có thể mua được tối đa mã chứng khoán mong muốn. Nhà đầu tư sẽ thế chấp bằng chính cổ phiếu đang có trong tài khoản của họ hoặc thế chấp bằng chính cổ phiếu mà họ sắp mua bằng tiền vay kí quỹ của CTCK.
Hàng tháng nhà đầu tư sẽ phải trả lãi cho CTCK theo mức lãi suất quy định của từng CTCK. Hoạt động giao dịch kí quỹ này chính là việc cấp tín dụng để đầu tư chứng khoán, thường là ngắn hạn (thời gian cho vay thường chỉ giới hạn trong vài tháng). Nguyễn Hồng Linh (2008) nhận định rằng :“Giao dịch ký quỹ chứng khoán có nghĩa là nhà đầu tư sẽ dùng tiền vay mượn từ nhà môi giới (nhà môi giới có thể là ngân hàng hoặc công ty chứng khoán được phép cho vay đầu tư chứng khoán nhưng trong phạm vi đề tài này cho phép tôi xem nhà môi giới chính là ngân hàng) sau khi đã đặt cọc một khoản cho nhà môi giới và toàn bộ số tiền đó (số tiền ký quỹ và số tiền vay mượn) được dùng để đầu tư chứng khoán, đồng thời chứng khoán đó sẽ được thế chấp cho ngân hàng. Tỷ lệ vay mượn phụ thuộc vào loại chứng khoán đầu tư cũng như chính sách của các ngân hàng, nhưng thông thường khoảng 50% giá mua chứng khoán hoặc ít hơn và một số nhà môi giới lại yêu cầu mức ký quỹ lớn hơn 50% giá mua".
Phạm Thị Mỹ (2011) có đưa ra 2 khái niệm về giao dịch kí quỹ như sau. Thứ nhất là: " Nghiệp vụ ký quỹ hay giao dịch ký quỹ, là nghiệp vụ do công ty chứng khoán hoặc nhà môi giới cung cấp trong đó, công ty chứng khoán cho khách hàng 4 vay một phần tiền theo tỷ lệ nhất định để thực hiện mua chứng khoán, đồng thời thế chấp chứng khoán đã mua tại công ty chứng khoán". Và khái niệm còn lại là:" Nghiệp vụ ký quỹ chứng khoán (Margin) là nghiệp vụ trong đó tài sản đảm bảo mà nhà đầu tư phải có trong tài khoản để đảm bảo cho những rủi ro của những khoản vay dùng để mua chứng khoán, quyền chọn, hay các hợp đồng tương lai với đối tác của mình (thường là các nhà môi giới /công ty môi giới)". Về mặt pháp lý, Thông tư 120/2020/TT-BTC, ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ Tài chính quy định về giao dịch kí quỹ ở Điều 9 như sau: Nhà đầu tư trước khi thực hiện giao dịch ký quỹ phải ký hợp đồng giao dịch ký quỹ với công ty chứng khoán được phép cung cấp dịch vụ cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán theo quy định pháp luật.
Hợp đồng giao dịch ký quỹ đồng thời là hợp đồng cho các khoản vay trên tài khoản giao dịch ký quỹ. Hợp đồng giao dịch ký quỹ tối thiểu phải bao gồm nội dung về tài sản bảo đảm cho giao dịch ký quý, thời hạn bổ sung ký quỹ, xử lý tài sản bảo đảm cho giao dịch ký quỹ khi nhà đầu tư không bổ sung ký quỹ; phương thức giải quyết khi có tranh chấp phát sinh; nêu rõ các rủi ro, thiệt hại có thể phát sinh và chi phí khách hàng phải thanh toán. Nhà đầu tư nước ngoài không được thực hiện giao dịch ký quỹ. Tại mỗi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư chỉ được mở 01 tài khoản giao dịch ký quỹ.
Tài khoản giao dịch ký quỹ là tài khoản riêng biệt hoặc được quản lý riêng biệt hoặc được hạch toán dưới hình thức tiểu khoản của tài khoản giao dịch chứng khoán hiện có của nhà đầu tư. Công ty chứng khoán phải hạch toán tách biệt tài khoản giao dịch ký quỹ với tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường của từng nhà đầu tư, tách biệt tài khoản giao dịch ký quỹ và tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường giữa các nhà đầu tư. Chứng khoán được giao dịch ký quỹ là cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch, chứng chỉ quỹ niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán và đáp ứng các tiêu chí cơ bản sau: thời gian niêm yết, đăng ký giao dịch; quy mô vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành; tính thanh khoản và biến động giá (nếu có); minh bạch thông tin và các tiêu chí khác theo quy chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Sở giao dịch chứng khoán công bố danh sách chứng khoán được giao dịch 5 ký quỹ hoặc chứng khoán không được giao dịch ký quỹ trên cơ sở tiêu chí do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định.
Trên cơ sở danh sách chứng khoán được giao dịch ký quỹ hoặc chứng khoán không được giao dịch ký quỹ do Sở giao dịch chứng khoán công bố, công ty chứng khoán lựa chọn danh sách chứng khoán được thực hiện giao dịch ký quỹ tại công ty và thực hiện công bố thông tin theo quy định pháp luật. Nhà đầu tư có nghĩa vụ đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ban đầu, tỷ lệ ký quỹ duy trì theo hợp đồng đã ký với công ty chứng khoán. Khi tỷ lệ ký quỹ trên tài khoản giao dịch ký quỹ của nhà đầu tư giảm xuống thấp hơn tỷ lệ ký quỹ duy trì, công ty chứng khoán phát hành lệnh gọi ký quỹ bổ sung. Chứng khoán không được phép giao dịch ký quỹ không được tính vào tài sản bảo đảm khi xác định tỷ lệ ký quỹ ban đầu và tỷ lệ ký quỹ duy trì cho giao dịch ký quỹ.
Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện ký quỹ bổ sung, công ty chứng khoán có quyền bán chứng khoán là tài sản bảo đảm theo điều khoản tại hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ. Trước khi thực hiện bán chứng khoán là tài sản bảo đảm, công ty chứng khoán thực hiện công bố thông tin theo quy định pháp luật và thông báo kết quả giao dịch bán chứng khoán là tài sản bảo đảm cho nhà đầu tư biết để thực hiện nghĩa vụ báo cáo sở hữu, công bố thông tin về giao dịch theo quy định pháp luật (nếu có). Công ty chứng khoán không còn đáp ứng điều kiện được cung cấp dịch vụ cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán phải ngừng ngay việc ký mới, gia hạn hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ, ngừng cho vay vốn để thực hiện giao dịch ký quỹ và báo cáo bằng văn bản cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong vòng 48 giờ kể từ khi xảy ra sự kiện trên. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành quy chế hướng dẫn hoạt động giao dịch ký quỹ tại công ty chứng khoán.
Trong trường hợp cần thiết để ổn định thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có quyền yêu cầu tạm ngừng giao dịch ký quỹ tại công ty chứng khoán. Đặc điểm giao dịch kí qũy Tính chất đòn bẩy Theo Harvey Conrad Friedentag (2009), một trong những ưu điểm của GDKQ đó là cung cấp công cụ đòn bẩy giúp các nhà đầu tư có cơ hội đạt lợi nhuận cao hơn 6 nếu có chiến lược đầu tư đúng đắn và dự đoán đúng diễn biến giá chứng khoán. Về bản chất, GDKQ cho phép nhà đầu tư giao dịch chứng khoán trên thị trường với số lượng lớn hơn nhiều lần so với số tiền thực tế mà nhà đầu tư sở hữu. Tuy nhiên, công cụ đòn bẩy cũng có thể khiến nhà đầu tư thua lỗ nhiều hơn so với đầu tư thông thường nếu không phán đoán đúng xu hướng giá chứng khoán giao dịch.
Nhờ vào tính chất đòn bẩy, sử dụng GDKQ là cơ hội giúp những nhà đầu tư có vốn vừa và nhỏ kiếm lợi nhuận và làm giàu nhanh hơn. Thời gian đáo hạn Theo tiêu chuẩn UBCK đề ra, thời gian đáo hạn của một GDKQ là 90 ngày. Sau khi giao dịch kết thúc, khách hàng có thể lựa chọn gia hạn nếu muốn tiếp tục sử dụng giao dịch. Ưu điểm lãi suất Theo Đào Minh Nguyệt (2018), dịch vụ GDKQ do các CTCK cung cấp có lãi suất thấp hơn so với lãi suất cho vay thông thường.
Vai trò của giao dịch kí quỹ Kết hợp (Thực trạng và giải pháp giao dịch mua ký quỹ trên thị trường chứng khoán Việt Nam, 2014) và nghiên cứu của Đào Minh Nguyệt (2018), bài viết đề cập đến 4 ý nghĩa chính của GDKQ đối với nền kinh tếViệt Nam. Đối với nhà đầu tư cá nhân Không phải ngẫu nhiên mà hoạt động này lại được phát triển lâu đời ở các nước có thị trường tài chính và thị trường chứng khoán phát triển. Đòn bẩy tài chính thật sự là một yếu tố hấp dẫn, thu hút rất nhiều nhà đầu tư, bởi: Đòn bẩy tài chính cho phép giao dịch mua bán một số lượng chứng khoán lớn hơn nhiều lần chỉ với một khoản đặt cọc ban đầu, so với hình thức giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt. Khi nhà đầu tư phán đoán đúng tình hình thị trường thì lợi nhuận từ GDKQ sẽ được khuyếch đại lên nhiều lần.
GDKQ thường có mức lãi suất thấp hơn so với lãi suất cho vay thông thường đồng thời thủ tục cho vay đơn giản, không phải chứng minh điều kiện tài chính cũng như tài sản đảm bảo phức tạp.