MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Cùng với sự phát triển kinh tế đất nƣớc thì thị trƣờng chứng khoán ở Việt Nam ngày càng phát triển. Tính đến nay, trên cả nƣớc, ở cả hai Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 700 công ty niêm yết (CTNY). Thị trƣờng chứng khoán ngày càng trở thành một kênh đầu tƣ hấp dẫn thu hút nhiều cá nhân và tổ chức tham gia.
Trên thị trƣờng đó, một trong những điều nhà đầu tƣ quan tâm nhất khi tham gia trên thị trƣờng chứng khoán chính là thông tin, đặc biệt là thông tin liên quan đến tài chính. BCTC giữa niên độ chính là một trong những kênh thông tin đƣợc nhiều nhà đầu tƣ quan tâm, vì loại BCTC này phản ánh khá kịp thời những thông tin liên quan đến tài chính của CTNY. Hiện nay, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 27 (BCTC giữa niên độ) đã quy định một số thông tin mà các doanh nghiệp cần phải công bố trên BCTC giữa niên độ. Tuy nhiên, do chuẩn mực không quy định mức độ rõ mức độ chi tiết của từng chỉ tiêu phải công bố, nên trên thực tế doanh nghiệp có thể tùy ý điều chỉnh về mức độ công bố những thông tin bắt buộc này khi phát hành các BCTC giữa niên độ.
Những thông tin tùy ý công bố trên các BCTC này có thể tác động không nhỏ đến quyết định của nhà đầu tƣ. Tuy nhiên, mức độ công bố thông tin (CBTT) tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào và những nhân tố nào có thể ảnh hƣởng đến mức độ CBTT này vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Xuất phát từ lý do đó, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” nhằm đánh giá về thực trạng (mức độ) CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ ở Việt Nam và quan trọng hơn là xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT này. Trên cơ sơ đó, đề xuất đƣợc các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện chất lƣợng thông tin mà BCTC giữa niên độ 2 cung cấp cho các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Mụ t êu ng ên ứu Xác định mức độ CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Đố tƣợng và p ạm v ng ên ứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ bởi các CTNY trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam và các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT này. Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong phạm vi là các BCTC quý 2 và BCTC bán niên đã soát xét năm 2016 của 100 CTNY (đƣợc lựa chọn theo phƣơng pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống) trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
P ƣơng p áp ng ên ứu - Xác định mức độ CBTT tùy ý thông qua việc vận dụng phƣơng pháp phân tích nội dung. Cụ thể, trên cơ sở thang đo mức độ CBTT tùy ý đã đƣợc xây dựng trên cơ sở các quy định về CBTT có liên quan, luận văn đã đo lƣờng mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên và quý 2 năm 2016 của các CTNY đƣợc khảo sát. - Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên của các CTNY thông qua việc kiểm định mô hình hồi quy. Cụ thể, trên cơ sở mô hình hồi quy đã đƣợc xây dựng, luận văn đã thực hiện phân tích hồi quy bằng mô hình hồi quy (kết hợp tất cả các quan sát – Pooled Ordinary List Squares) để đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố có liên quan đến các giả thuyết đã đƣợc xây dựng.
Bố ụ đề tà Ngoài phần danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục của luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin tùy ý trên báo cáo tài chính giữa niên độ Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kết luận 6. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT trên BCTC năm cả bắt buộc lẫn tự nguyện. Tuy nhiên, các nghiên cứu đƣợc thực hiện trên BCTC bán niên lại không đáng kể. Hơn nữa, đa phần các nghiên cứu đều chỉ mới tập trung vào mức độ CBTT bắt buộc hoặc tự nguyện, trong khi đó nghiên cứu tập trung đánh giá, kiểm chứng các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên còn khan hiếm.
Nguyễn Hữu Cƣờng [27] đã tóm lƣợc rằng nghiên cứu sớm nhất về CBTT trên BCTC quý đƣợc thực hiện bởi McEwen và Schwartz (1992) với 76 CTNY trên Sở Giao dịch chứng khoán New York và cho rằng các công ty không công bố tất cả các thông tin phù hợp với chuẩn mực kế toán số 28 về BCTC giữa niên độ. Nghiên cứu của họ cũng lập luận rằng việc thực thi các yêu cầu sẽ nâng cao tính hữu ích của BCTC giữa niên độ, nên đã đề xuất việc soát xét thƣờng xuyên cho BCTC giữa niên độ. Tuy nhiên, các đánh giá này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu việc CBTT bắt buộc ở các BCTC quý bằng phƣơng pháp thống kê mô tả chứ chƣa thực hiện việc kiểm chứng sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc cũng nhƣ tùy ý trên BCTC giữa niên độ. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thủy Hƣởng [12] đã tóm lƣợc các nghiên cứu 4 về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTC bán niên ở New Zealand trong đó đƣa ra kết luận rằng các nhân tố nhƣ vốn bên ngoài, các khoản chi trả cổ tức giữa niên độ và các khoản thu nhập không mong đợi có ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, trong khi đó sự biến động của mùa vụ ảnh hƣởng tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện (Bradbury, 1991).
Khác với nghiên cứu trên sử dụng hồi quy logistic để kiểm định sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tự nguyện giữa niên độ, nghiên cứu của Schadewitz và Blevins [29] đã kiểm tra các yếu tố quyết định về việc CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC giữa niên độ của các CTNY không thuộc lĩnh vực tài chính ở Phần Lan trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993 bằng cách sử dụng phƣơng pháp hồi quy bình phƣơng bé nhất (OLS) và mức độ CBTT đƣợc đo bằng hệ thống chỉ mục do chính các nhà nghiên cứu tự xây dựng nên. Nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng rủi ro kinh doanh (đo lƣờng bằng độ lệch tiêu chuẩn về sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong doanh thu thuần hoặc độ lệch chuẩn của thay đổi tỷ lệ cố định đến tổng tài sản) và quy mô doanh nghiệp (đo lƣờng bằng số lƣợng nhân viên) có ảnh hƣởng đáng kể, cụ thể là có mối quan hệ thuận chiều với mức CBTT của các CTNY; ngƣợc lại, tiềm năng tăng trƣởng lại có mối quan hệ ngƣợc chiều với mức CBTT. Ngoài ra, trong lĩnh vực CBTT cũng còn có một số nghiên cứu khác khảo sát sự ảnh hƣởng của nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC năm của các CTNY ở Vƣơng quốc Anh [23] cũng sử dụng hồi quy OLS. Kết quả đã chỉ ra rằng quyền sở hữu cổ phần của ủy ban kiểm toán có quan hệ cùng chiều với mức độ CBTT của BCTC giữa niên độ; nhƣng chuyên môn về kiểm toán tài chính của nhóm kiểm toán có quan hệ nghịch chiều; còn quy mô của ủy ban kiểm toán lại không có sự liên quan đáng kể nào.
Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp (đo lƣờng bằng tổng tài sản), sự tham gia của kiểm toán viên có mối liên hệ tích cực đáng kể với mức độ CBTT trên 5 BCTC giữa niên độ. Nhƣ vậy, hạn chế là nghiên cứu trên là chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự ảnh hƣởng của một số rất ít các nhân tố (đặc biệt là chú trọng đến các nhân tố thuộc về đặc trƣng của ủy ban kiểm toán) đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ. Ở các nƣớc đang phát triển nhƣ Malaysia, Ấn Độ, đã có những nghiên cứu để kiểm tra các mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ và các nhân tố ảnh hƣởng đến nó. Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu nhƣ chỉ sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, và chƣa đƣa ra kết luận gì về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ [28].
Mặt khác, điểm đáng chú ý là các nghiên cứu này đã đánh giá về mức độ CBTT trên BCTC quý, đây là một điểm khác biệt so với các nghiên cứu ở các nƣớc phát triển hầu nhƣ chỉ tập trung vào BCTC bán niên. Cá ng ên ứu ở V ệt N m Là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về BCTC giữa niên độ của nhiều quốc gia, Nguyễn Hữu Cƣờng [27] đã nghiên cứu về mức độ CBTT bắt buộc, tùy ý và tự nguyện trên 700 BCTC giữa niên độ của 7 nƣớc thuộc châu Á – Thái Bình Dƣơng, trong đó có Việt Nam. Ông đã thiết lập thang đo các mức độ CBTT, khảo sát các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT dựa trên lý thuyết về tính kinh tế của thông tin (Information Economics Theory) và đƣa ra kết luận: mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ ở các quốc gia là khác nhau, và mức độ CBTT là cao hơn ở những quốc gia có hoặc áp dụng luật phù hợp với chuẩn mực kế toán/chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, và cao hơn ở các BCTC đƣợc soát xét. Mặt khác, ở bài báo có liên quan Nguyễn Hữu Cƣờng [6] đã dựa vào các nghiên cứu ở các chỉ tiêu về mức độ CBTT bắt buộc và tùy ý ở 7 nƣớc đã chỉ ra rằng mức độ CBTT ở các CTNY ở Việt Nam là kém nhất, đặc biệt là đối với BCTC quý 2.