chương 1: 11 Ở chương này, nhóm tác giả đã nêu lên các khía cạnh cơ bản của đề tài là tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đưa ra những nét tổng quan về tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự kiện mua lại cổ phiếu. Trên cơ sở so sánh, tổng hợp các nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả tìm ra những vấn đề đang được lưu tâm để trình bày tính mới mà bài nghiên cứu muốn hướng đến. Cuối cùng, nhóm tác giả trình bày khái quát về kết cấu của đề tài gồm 5 chương bao gồm Giới thiệu đề tài nghiên cứu, Cơ sở lý thuyết và Tổng quan nghiên cứu, Thiết kế nghiên cứu, Kết qủa nghiên cứu và cuối cùng là Kết luận và đề xuất.
Trong chương tiếp theo, nhóm tác giả sẽ cung cấp thêm thông tin về hoạt động mua lại cổ phiếu và quy định của Việt Nam về công cụ tài chính này. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng hệ thống hóa các khái niệm lý thuyết liên quan đến động cơ mua lại cổ phiếu và trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây để làm cơ sở và tiền đề cho thiết kế nghiên cứu và đưa ra kết luận cho bài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về mua lại cổ phiếu 2.
Khái niệm về mua lại cổ phiếu Theo CFA Program Curicculum, Level II (2018), mua lại cổ phiếu là một hình thức giao dịch mà doanh nghiệp mua lại cổ phiếu do chính doanh nghiệp đó đã phát hành bằng tiền mặt; vì vậy, mua lại cổ phiếu được xem như hình thức thay thế của chia cổ tức bằng tiền mặt. Cổ phiếu được phát hành và sau đó được mua lại gọi là cổ phiếu quỹ. Loại cổ phiếu này không được xem xét để chia cổ tức, biểu quyết hay dùng để tính toán lợi nhuận trên cổ phiếu. Phương pháp mua lại cổ phiếu Theo Vermaelen (2005), mua lại cổ phiếu có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp nhưng mua lại cổ phiếu theo năm phương pháp chính như sau: mua lại cổ phiếu trên thị trường mở, chào mua với giá cố định, mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá kiểu Hà Lan, mua lại bằng cách đàm phán trực tiếp và mua lị thôn qua phái sinh.
Mua lại cổ phiếu trên thị trường mở Mua lại cổ phiếu trên thị trường mở là việc doanh nghiệp mua lại cổ phiếu của họ trên thị trường tự do. Nhiều bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng doanh nghiệp tiến hành mua lại cổ phiếu trên thị trường mở (OMRs) để phân chia tiền mặt dư thừa và báo hiệu cho thị trường biết rằng doanh nghiệp đang bị định giá thấp. Tuy nhiên, Jesse M. Fried (2001) lại cho rằng các nhà quản trị thực hiện phương pháp OMRs như một công cụ để chuyển giá trị cổ phiếu từ các cổ đông đại chúng sang chính họ.
Khi các nhà quản trị có được thông tin nội bộ giá trị doanh nghiệp đang được định giá cao hơn so với thị trường, các nhà quản trị có thể tiến hành OMRs để nắm giữ các cổ phiếu được định giá cao này cho chính họ và cho các cổ đông còn lại. Khi sử dụng phương thức mua lại cổ phiếu trên thị trường mở, các doanh nghiệp có thể chọn mua lại trực tiếp trên thị trường mở hoặc thông qua môi giới. Ngoài ra các doanh nghiệp không có nghĩa vụ phải mua lại cổ phiếu ngay cả khi doanh nghiệp đã thông báo mua lại cổ phiếu ra công chúng. Doanh nghiệp có thể thực hiện việc mua lại này với thời gian dài, hàng tháng, thậm chí lên đến hàng năm, 13 với giá mua bằng với giá thị trường.
Đây có thể nói là phương pháp phổ biến nhất để mua lại cổ phiếu do thực tế nó mang lại cho doanh nghiệp sự linh hoạt nhất; đồng thời doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí với việc mua lại này vì doanh nghiệp không phải đưa ra giá cao hơn để thu hút các cổ đông hiện tại. Chào mua với giá cố định Theo nghiên cứu của Vermaelen (2005) về chào mua với giá cố định, doanh nghiệp đề nghị mua lại cổ phiếu với với số lượng cụ thể bằng cách đưa ra một giá đệm (thường cao hơn giá thị trường) trước ngày tới hạn. Nếu giá chào mua thấp hơn hoặc bằng giá trị thị trường sau khi thông báo mua lại, việc mua lại cổ phiếu xem như không thành công. Tuy nhiên, nếu giá chào mua cao hơn đáng kể so với giá trị thị trường thì đây là hiện tượng đặt mua vượt mức và doanh nghiệp phải chi trả nhiều tiền trong giao dịch mua lại này.
Nếu số lượng cổ đông chào bán số cổ phiếu lớn hơn số lượng cổ phiếu chào mua, doanh nghiệp có thể mua lại toàn bộ số cổ phiếu đó (khi doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính) hoặc doanh nghiệp có thể chọn mua cổ phiếu trên một cơ sở tỷ lệ đảm bảo đem lại công bằng cho các cổ đông. Trong trường hợp số lượng cổ phiếu chào bán ít hơn số lượng mà doanh nghiệp yêu cầu mua lại, doanh nghiệp có thể mua lại cổ phiếu đó và kéo dài thời gian chào mua hoặc hủy bỏ kế hoạch mua lại. Thời gian mua lại thường là một thời hạn cụ thể tương đối ngắn, thông thường khoảng 30 ngày. Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá kiểu Hà Lan Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá kiểu Hà Lan cũng là hình thức doanh nghiệp mua lại cổ phiếu với số lượng cụ thể với biên độ giá dao động cố định với nhiều mức giá nằm trong biên độ này.
Cổ đông dự thầu đưa ra số lượng cổ phiếu muốn bán và lựa chọn mức giá bán chấp nhận được tối thiểu của mình (giá nằm trong biên độ dao động giá). Sau đó, doanh nghiệp tập hợp các đề nghị chào bán này lại và sắp xếp chúng thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao để có thể mua lại số cổ phiếu từ các cổ đông với mức giá thấp nhất lấy được số cổ phiếu cụ thể họ tìm kiếm và những cổ đông đưa ra mức giá cao hơn sẽ bị loại trừ khỏi thỏa thuận đấu giá. Đấu giá kiểu Hà Lan có một số ưu điểm hơn chào giá cố định: hình thức mua lại này giúp doanh nghiệp mua lại cổ phiếu với giá rẻ hơn, không cần phải đối xử với 14 tất cả các cổ đông như nhau và đảm bảo công bằng, tạo ra một phòng vệ tốt hơn thị trường chứng khoán. Mua lại bằng cách thương lượng trực tiếp Theo phương pháp này, một doanh nghiệp tiến hành đàm phán và mua lại cổ phiếu với một cổ đông lớn với giá thương lượng.
Việc mua lại này ngăn cản việc các cổ đông này bán một khối lượng lớn cổ phiếu của doanh nghiệp dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến giá trên thị trường. Phương pháp này thường được dùng khi doanh nghiệp muốn mua lại cổ phiếu từ các cổ đông để bảo vệ doanh nghiệp khỏi các thế lực thâu tóm hoặc họ muốn thu hồi cổ phiếu từ tay các nhà đầu tư định giá thấp doanh nghiệp họ với giá cao hơn giá thị trường. Bên cạnh đó, phương pháp mua lại do thương lượng này được áp dụng nếu doanh nghiệp mua lại cổ phiếu từ các nhân viên và việc mua lại này được thực hiện bằng với giá thị trường. Trong trường hợp cổ đông không muốn sở hữu cổ phiếu của công ty và họ muốn bán lại số cổ phiếu đang nắm giữ, giá mua lại sẽ thấp hơn giá thị trường.
Mua lại thông qua thị trường phái sinh Một hình thức mua lại ít phổ biến nhất là dùng công cụ phái sinh để mua lại, có thể kể đến quyền chọn bán, mua hợp đồng kỳ hạn hoặc mua hợp đồng phòng vệ. Phương pháp này tiện lợi hơn 4 phương pháp trên bởi vì doanh nghiệp thông qua phương pháp này có thể mua lại cổ phiếu mà không cần dùng tiền mặt. Khi công ty sử dụng hợp đồng quyền chọn bán, nó ràng buộc doanh nghiệp phải mua lại số lượng cổ phiếu đã được thống nhất nếu giá cổ phiếu vào ngày tới hạn thấp hơn giá thực hiện. Trong trường hợp như vậy, giá cổ phiếu bị định giá thấp, công ty thu được một khoản tiền lời (premium).
Khi mua lại được thực hiện bằng hợp đồng kỳ hạn, ban đầu giao dịch sẽ không thông qua tiền mặt, nhưng nếu dự đoán của doanh nghiệp là đúng, họ sẽ nhận tiền mặt. Cuối cùng, khi doanh nghiệp mua hợp đồng phòng vệ, giá thực hiện của hợp đồng sẽ cố định để tiền mặt sẽ không phát sinh tại thời điểm hợp đồng tới hạn. Cơ sở lý thuyết của động cơ mua lại cổ phiếu 2. Lý thuyết tín hiệu Theo Vermaelen (1981), Lý thuyết tín hiệu là một trong những động cơ chủ yếu khiến các công ty quyết định mua lại.
Lý thuyết này dựa trên hai giả thuyết: 15 thông tin bất cân xứng và việc bị định giá thấp. Thông tin bất cân xứng được hiểu là nhà quản trị hiểu rõ nội bộ của doanh nghiệp hơn các nhà đầu tư bên ngoài, chẳng hạn là giá trị thực của công ty hay triển vọng của công ty trong thời gian tương lai. Chính vì vậy, ban quản trị công ty quyết định mua lại để thông báo với thị trường rằng họ không chấp nhận mức giá hiện tại của công ty họ được đánh giá trên thị trường hoặc để báo hiệu tiềm năng hoạt động kinh doanh của công ty trong tương lai. Các nhà quản trị tin tưởng vào hiệu suất hoạt động của công ty: lợi nhuận dài hạn sẽ cao hơn mức thị trường dự kiến hoặc dòng tiền ít gặp biến động, vì thế mà rủi ro hệ thống của cổ phiếu sẽ không thể tăng lên.Cũng đồng quan điểm trên, Hung & Chen (2010) cũng kết luận rằng Lý thuyết tín hiệu góp phần cung cấp thông tin mới và khẳng định niềm tin về hiệu quả hoạt động của công ty.
Còn đối với Dittmar (2000), tác giả kết luận rằng việc doanh nghiệp bị định giá sai bắt nguồn thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và nhà quản trị. Theo Fried (2001), khi muốn thể hiện sự không bằng lòng về việc giá trị doanh nghiệp bị định giá thấp hay muốn tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông, các nhà quản trị sẽ tìm cách truyền đạt cho thị trường để tăng giá cổ phiếu. Tuy nhiên, việc công khai trực tiếp thông tin cho thị trường sẽ tác động xấu tới công ty do các vấn đề cạnh tranh hay bảo mật.