MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con ngƣời đã và đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Một trong các chƣơng trình đang đƣợc nhà nƣớc quan tâm là nghiên cứu và đánh giá mức độ ô nhiễm thuộc lƣu vực một số hệ thống sông chính nhƣ: sông Đáy, sông Nhuệ, sông Cầu,. để từ đó có các biện pháp quản lý thích hợp.
Trong số các chỉ số ô nhiễm, ô nhiễm kim loại nặng là một trong những chỉ số đƣợc quan tâm nhiều bởi độc tính và khả năng tích lũy sinh học của chúng. Để có thể đánh giá một cách đầy đủ về mức độ ô nhiễm của các kim loại nặng không chỉ dựa vào việc xác định hàm lƣợng của các kim loại hòa tan trong nƣớc mà cần xác định cả hàm lƣợng các kim loại trong trầm tích và động vật đáy sống trong môi trƣờng này. Rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về trầm tích và các động vật nhuyễn thể sống trong sông, hồ đều cho thấy hàm lƣợng của các kim loại trong các loài này lớn hơn nhiều so với trong nƣớc [9]. Kim loại nặng có thể xâm nhập vào cơ thể con ngƣời chủ yếu thông qua đƣờng tiêu hóa và hô hấp.
Tuy nhiên, cùng với mức độ phát triển của công nghiệp và sự đô thị hóa, hiện nay môi trƣờng sống của chúng ta đang bị ô nhiễm trầm trọng. Sự tích tụ KLN nói chung và các kim loại đồng, chì, cadimi nói riêng sẽ ảnh hƣởng đến đời sống của các sinh vật thủy sinh, gây ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời thông qua chuỗi thức ăn. Ví dụ nhiều loài động vật không xƣơng sống sử dụng trầm tích nhƣ nguồn thức ăn, vì thế cơ thể chúng là nơi lƣu giữ và tích tụ KLN. Sự tích tụ KLN trong sinh vật có thể đe dọa sức khỏe của nhiều loài sinh vật đặc biệt là cá, chim và con ngƣời.
Do đó, việc nghiên cứu và phân tích các KLN trong cơ thể sinh vật, trong thực phẩm và tác động của chúng tới cơ thể con ngƣời nhằm đề ra các biện pháp tối ƣu bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng là một việc vô cùng cần thiết. Nhu cầu về thực phẩm sạch, đảm bảo sức khỏe đã trở thành nhu cầu thiết yếu, cấp bách và đƣợc toàn xã hội quan tâm [3]. 1 Luan van Các loài động vật không xƣơng sống cỡ lớn nhƣ Ốc vặn, Hến,… cũng là một trong những nguồn thực phẩm sạch thiết yếu và đƣợc ƣa chuộng ở nƣớc ta. Loài động vật không xƣơng sống cỡ lớn này có vai trò làm sạch môi trƣờng, có giá trị kinh tế và giá trị dinh dƣỡng cao song chúng có khả năng đặc biệt trong việc tích tụ những chất gây ô nhiễm nhất định trong mô của chúng vì những đặc tính vốn có nhƣ: lấy thức ăn theo kiểu lọc nƣớc, có khả năng tích lũy một hàm lƣợng lớn các KLN mà không bị ngộ độc, có lối sống tĩnh tại, di chuyển chậm để đảm bảo rằng chất ô nhiễm mà nó tích tụ có liên quan đến khu vực nghiên cứu, có kích thƣớc phù hợp dễ cung cấp những mô đủ lớn cho việc phân tích,… Mặt khác, vì sự tích lũy KLN trong cơ thể chúng với hàm lƣợng cao hơn nhiều lần so với môi trƣờng bên ngoài nơi chúng sinh sống nên những loài này tƣợng trƣng cho ô nhiễm của khu vực nghiên cứu.
Lƣu vực sông Cầu là một trong những lƣu vực sông lớn và tập trung đông dân cƣ sinh sống ở khu vực phía Bắc. Sông Cầu dài 288,5 km bắt nguồn từ núi Vạn On ở độ cao 1.175m thuộc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn chảy qua các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dƣơng và đổ vào sông Thái Bình ở thị xã Phả Lại tỉnh Hải Dƣơng. Các khu vực sông Cầu chảy qua là những khu vực tập trung rất nhiều các hoạt động sản xuất công nghiệp nhƣ: khai khoáng, luyện kim, mạ điện, sản xuất nhựa, sản xuất chất tẩy rửa,. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc phát sinh các kim loại Cu, Pb và Cd vào môi trƣờng.
Vì vậy, tình hình ô nhiễm KLN nói chung và ô nhiễm các kim loại Cu, Pb và Cd nói riêng đang ở mức báo động. Trƣớc tình hình đó Chính phủ đã cho thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trƣờng lƣu vực sông Cầu vào tháng 1 năm 2008 để có những giải pháp đồng bộ quản lý và giảm thiểu ô nhiễm trên hẹ thống lƣu vực sông Cầu [5]. Ở Việt Nam nghiên cứu KLN trong trầm tích và trong động vật đáy, đặc biệt là động vật không xƣơng sống cỡ lớn chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Tính đến nay các nghiên cứu về vấn đề này chƣa đƣợc thực hiện, mặc dù có khá nhiều đề tài, dự án đã và đang thực hiện trong lƣu vực sông này.
Do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu xác định mối tương quan giữa hàm lượng các kim loại đồng, chì, cadimi tích lũy trong động vật đáy không xương sống cỡ lớn và trầm tích sông Cầu”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc hàm lƣợng các kim loại nặng Cu, Pb, Cd tích lũy trong động vật đáy không xƣơng sống cỡ lớn và trầm tích sông Cầu. Xác định đƣợc mối tƣơng quan giữa hàm lƣợng các kim loại nặng Cu, Pb, Cd tích lũy trong động vật đáy không xƣơng sống cỡ lớn và trầm tích sông Cầu. Nội dung nghiên cứu 3.
Khảo sát thực tế, tiến hành lấy mẫu động vật đáy không xƣơng sống cỡ lớn (Ốc vặn, Hến) và trầm tích sông Cầu. Tiến hành quan trắc 01 đợt lấy mẫu trầm tích và động vật đáy không xƣơng sống cỡ lớn (Ốc vặn, Hến); Thời gian lấy mẫu: Cuối tháng 12/2017 đến tháng 01/2018; Tiến hành lấy mẫu tại 24 vị trí trên sông Cầu chảy qua các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dƣơng. Phân tích xác định hàm lƣợng các kim loại nặng Cu, Pb, Cd trong động vật đáy không xƣơng sống cỡ lớn (Ốc vặn, Hến) và trầm tích sông Cầu tại Phòng thí nghiệm môi trƣờng, Trƣờng Đại học Tài nguyên và Môi trƣờng Hà Nội và Phòng thí nghiệm Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học, Trƣờng Đại học Bách Khoa Hà Nội. Xác định mối tƣơng quan giữa hàm lƣợng các kim loại nặng Cu, Pb, Cd trong động vật đáy không xƣơng sống cỡ lớn và trầm tích sông Cầu bằng phần mềm Origin 8.
3 Luan van Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về kim loại nặng Kim loại nặng là những kim loại có khối lƣợng riêng lớn hơn 5 g/cm3. Chúng có thể tồn tại trọng khí quyển (dạng hơi), thủy quyển (các muối hòa tan), địa quyển (dạng rắn không tan, khoáng, quặng,…) và sinh quyển (trong cơ thể con ngƣời, động thực vật). Kim loại nặng đƣợc chia làm 3 loại: các kim loại độc (Hg, Cr, Pb, Zn, Cu, Ni, Cd, As, Co, Sn,…), những kim loại quý (Pd, Pt, Au, Ag, Ru,…), các kim loại phóng xạ (U, Th, Ra, Am,…) [7].
Kim loại trong môi trƣờng có thể tồn tại ở các dạng khác nhau nhƣ dạng muối tan, dạng ít tan nhƣ oxit, hidroxit, muối kết tủa và dạng tạo phức với chất hữu cơ. Tùy thuộc vào dạng tồn tại đó mà khả năng tích lũy trong trầm tích và khả năng tích lũy sinh học của kim loại là khác nhau. Các cơ thể sống luôn cần một lƣợng rất nhỏ một số kim loại nặng (gọi là các nguyên tố vi lƣợng), nhƣng nếu liều lƣợng vƣợt quá mức cho phép có thể gây hại cho cơ thể. Sự tích lũy của các kim loại này trong một thời gian dài trong cơ thể sống có thể gây nên nhiều bệnh tật nguy hiểm [6].
Trong phạm vi của luận văn này, tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu ba kim loại nặng là đồng (Cu), chì (Pb) và cadimi (Cd). Nguồn phát sinh kim loại nặng Kim loại nặng hiện diện trong tự nhiên đều có trong đất và nƣớc, hàm lƣợng của chúng thƣờng tăng cao do tác động của con ngƣời. Các kim loại do hoạt động của con ngƣời nhƣ As, Cd, Cu, Ni và Zn thải ra ƣớc tính là nhiều hơn so với nguồn kim loại có trong tự nhiên, đặc biệt đối với chì là 17 lần. Nguồn KLN đi vào đất và nƣớc do tác động của con ngƣời bằng các con đƣờng chủ yếu nhƣ nón phân, bã bùn cống và thuốc bảo vệ thực vật và các con đƣờng phụ nhƣ khai khoáng và kỹ nghệ hay lắng động từ không khí [7].
Các khu vực khai thác mỏ, khoáng sản, các khu công nghiệp và các thành phố lớn là những nguồn phát thải ra một lƣợng lớn KLN, chúng có khả năng tồn tại 4 Luan van trong môi trƣờng, vấn đề không đáng lo ngại nhiều nếu chúng không xâm nhập đƣợc vào cơ thể sinh vật và hệ sinh thái. Điều đáng quan tâm là KLN có tính bền vững khó phân hủy, có khả năng xâm nhập và tích lũy đến mức độ gây độc cho con ngƣời, sinh vật và hệ sinh thái. Nguồn tự nhiên: Kim loại nặng phát hiện ở mọi nơi: Trong đá, đất và xâm nhập vào thủy vực qua các quá trình tự nhiên, phong hóa, xói mòn và rửa trôi. Nguồn nhân tạo: Sự gia tăng tích lũy KLN trong môi trƣờng không chỉ từ các nguồn tự nhiên mà còn từ hoạt động công nghiệp của con ngƣời nhƣ: Việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, việc sử dụng các vật liệu và các sản phẩm công nghiệp có thể chứa hàm lƣợng cao các nguyên tố kim loại độc hại,.
Rất nhiều các kim loại này tích lũy trong đất, trong nƣớc dẫn đến tạo ra sự nguy hiểm đối với động vật và thực vật [6]. Nguồn thải một số KLN (Cu, Pb, Cd) của một số ngành công nghiệp phổ biến đƣợc thể hiện trong bảng 1. Nguồn thải một số KLN (Cu, Pb, Cd) của một số ngành công nghiệp phổ biến [10] STT Kim loại Nguồn phổ biến 1 Chì Công nghiệp luyện kim, sản xuất pin, acquy, nhựa,… Ngành công nghiệp mạ điện, công nghiệp nhựa, luyện 2 Đồng kim và công nghiệp khí thải. Pin niken - cadimi, các ngành công nghiệp mạ điện, phân bón phosphate, chất tẩy rửa, sản phẩm tinh chế 3 Cadimi dầu mỏ, bột sơn màu, thuốc trừ sâu, ống mạ kẽm, nhựa, polyvinyl và nhà máy lọc dầu.
Độc tính của KLN Ở nồng độ thấp một số KLN kích thích một số quá trình sinh học, nhƣng ở nồng độ cao vƣợt ngƣỡng cho phép thì trở nên độc hại. Không phân hủy sinh học, các kim loại này tích tụ ở các bậc dinh dƣỡng khác nhau thông qua chuỗi thức ăn và có thể gây ra các vấn đề sức khỏe con ngƣời.