Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 1. Nguồn gốc của dê Dê là một trong những loài động vật được thuần hóa từ rất lâu đời và được con người nuôi cách đây hơn hai vạn năm, trong đó các nước Trung Đông, Ấn Độ nuôi từ rất sớm. Các tác giả Trần Kiên và cs.
(1995) cho rằng dê được thuần hóa từ 3 trung tâm. - Trung tâm cổ nhất là trung tâm Cận Á - Ấn Độ, giống dê ở đây giống với dê sừng xoắn (Capra Falconeri) hiện còn sống ở miền tây Hymalaya, Kasơmia, Afganistan, loài dê này có sừng xoắn lên trên. - Trung tâm Cận Á có giống dê với nguồn gốc từ loài dê rừng (Capra Aegagrus), hiện còn sống ở miền Tây Ấn Độ, Cáp Ca, Tiểu Á và quần đảo Hy Lạp. Loài này có sừng dẹp xuôi xuống 2 bên vai và cong về phía sau.
- Trung tâm Đông Nam Á là trung tâm mới nhất, việc nuôi dê bắt đầu từ thời kỳ đồ đồng. Nơi đây là nguồn gốc của các loài dê núi (Capra Prisca). Sừng của loài dê này cong về phía sau, đi sang hai bên và hơi xoắn một chút. Giống dê này sau khi được thuần hóa thì được nuôi phổ biến ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi [2].1: Một số hình ảnh Dê c 4 Theo một số tài liệu khác, dê nhà đã xuất hiện khoảng 6 – 7 nghìn năm trước Công nguyên.
Khó xác định chính xác thời điểm mà con người thuần dưỡng loài dê và chỉ có thể cho rằng sự thuần dưỡng dê đã xảy ra ở vùng Tây Á hoặc quanh vùng này. Phần lớn những dê rừng này có bộ lông đen, có lông dài ở khuỷu chân, từ đây dê được nuôi phổ biến sang các vùng. Việc nghiên cứu nguồn gốc của dê, ngoài ý nghĩa về lý luận còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Bởi vì sự hiểu biết về những biến đổi lịch sử của động vật sẽ giúp cho việc sử dụng các cá thể hoang dã đã thuần hóa để lai khác loài và tạo ra những giống mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản xuất hơn [1].
Nhiều nhà khoa học ở các nước khác nhau đã nghiên cứu về nguồn gốc của dê nhà, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng đại đa số các nhà khoa học cho rằng dê là một trong những loại vật nuôi được thuần hóa sớm nhất. Người ta cho rằng dê nhà ngày nay (Capra hircus) có nhiều nguồn gốc khác nhau. Tổ tiên trực tiếp của dê nhà gồm 2 nhóm dê rừng chính: + Dê rừng Bezoar (Capra aegagrus) được tìm thấy ở Iran và các nước vùng tiểu Á, là tổ liên của phần lớn dê nhà đang được nuôi ở châu Á và châu Âu. Nó được coi là nhóm tổ tiên thứ nhất của dê nhà.
Dê thuộc nhóm này có sừng thẳng nhưng xoắn vặn. + Dê rừng Markhor (Capra Falconeri), nhóm này có sừng cong vặn về phía sau và được coi là nhóm tổ tiên thứ 2 của dê nhà, còn thấy ở vùng núi Hymalaya và đang được nuôi nhiều ở hai bên sườn phía Đông là Tây của dãy núi này. Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir – Karakorum. Hiện nay, người ta thấy rằng khu vực nuôi dê lâu đời nhất là các nước Trung Đông, sau đó đến Ấn Độ và Ai Cập, tiếp đến là các nước châu Âu, châu Á và châu Phi.
Khu vực nuôi dê mới nhất là Đông Nam Á [6]. Vị trí phân loại của dê Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dê nhà có tên khoa học là: Caprahicus. Về phân loại động vật học, dê thuộc giới động vật (Animalia), ngành động vật có dây sống (Chordata), phân ngành động vật có xương sống (Vertebrata), lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), họ trâu bò (bovidae), họ phụ dê cừu (capra rovanae), thuộc loài dê (Capra) [6]. c 5 Tuy con dê được xếp cùng trong họ phụ dê cừu nhưng nó khác hẳn cừu không chỉ ở ngoại hình, mà dê còn khác về tập tính hoạt động như thích leo trèo núi đá, ăn được rất nhiều loại lá cây mà trâu bò không ăn được.
Dê là con vật hiếu động, dễ dàng di chuyển và có thể sử dụng những diện tích đồng cỏ rộng, bởi vậy nhiều nước nuôi dê chủ yếu theo phương pháp chăn thả trên đồng cỏ [4]. Một số đặc điểm sinh học của dê 1. Đặc điểm ngoại hình Quan sát đặc điểm ngoại hình cho thấy cơ thể dê có góc cạnh, có râu ở các con đực và con cái. Sừng dê có 2 gốc sừng sần sát nhau và liền choãi ra, mặt cắt ngang sừng dê có hình tam giác.
Lông của dê có nhiều màu khác nhau và rất đa dạng: màu trắng, đen, xám, ánh nâu, khoang…[6] 1. Tập tính sinh hoạt của dê + Tập tính ăn uống: Dê khác hẳn cừu về tiếng kêu cũng như về tập tính sinh hoạt. Dê thường tập trung ăn uống thành bầy nhỏ lẻ, ưa những vùng có núi đá cao, khô ráo, thích ăn những loại thức ăn có hoa cành lá và các cây lùn, cây bụi, cây họ đậu thân gỗ.Dê rất nhanh nhẹn và hiếu động, chúng di chuyển rất nhanh khi ăn xung quanh cây. Dê thích ăn lá cây ở độ cao 0,2 – 1,2m, chúng có thể đứng rất lâu để bứt lá [6].2: Tập tính ăn uống của Dê c 6 Dê thường chọn loại thức ăn nào mà chúng thích ăn nhất, không ăn lại thức ăn rơi vãi của trâu bò.
Chúng có thể ăn lượng thức ăn bằng từ 2 – 4% khối lượng cơ thể chúng. + Tính nết của Dê Dê là con vật có tính khí thất thường, hiếu động, ương bướng và cũng rất khôn ngoan. Dê rất phàm ăn nhưng luôn tìm thức ăn mới. Dê leo chèo rất giỏi và ưa mạo hiểm.
Dê chọi nhau rất hăng không chỉ ở con đực mà còn ở cả con cái, chúng thường dùng sừng húc vào mặt hoặc bụng đối thủ. + Tập tính bầy đàn Dê thường sống tập chung thành bầy đàn, mỗi con có một vị trí riêng trong đàn, con có vị trí thấp phải phục tùng con có vị trí cao hơn. Trong đàn, con đầu đàn sẽ dẫn đầu khi ăn. Chúng thích ngủ nghỉ trên những mô đất hoặc đá phẳng [3].
Giới thiệu về dê Nản Dê Nản là giống dê địa phương được nuôi ở vùng núi đá thuộc các xã ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (thường gọi là Nản đa). Dãy núi đá này dài trên 20 km, cao từ 50m đến trên 200m qua 3 xã ( Kim Phượng, Phượng Tiến, Trung Hội), thị trấn. Dê Nản thường leo trèo kiếm ăn tận sườn núi Nản, bám cả vào vách đá, hẻm núi, đồi thấp, nơi đang có nhiều cây thuốc và cả các loại cây xanh dưới chân núi. Một trong những vấn đề hạn chế cơ bản của dê Nản là sinh trưởng và tầm vóc.
Đã có nhiều giải pháp đưa ra để cải tạo sinh trưởng và tầm vóc của dê Nản, trong đó chủ yếu là cho lai với dê ngoại. Phương pháp này đã đem lại những hiệu quả tích cực trong cải tạo về tầm vóc của dê, tuy nhiên lại dẫn đến một số vấn đề đó là chất lượng thịt và khả năng thích nghi với điều kiện của địa phương. Hiện nay, việc chọn giống dựa trên chỉ thị sinh học phân tử nhằm nâng cao hiệu quả chọn lọc ngay từ giai đoạn sơ sinh đã và đang mở ra những triển vọng mới, góp phần quyết định sớm tiềm năng của con vật và giữ lại được những đặc điểm quý vốn có. + Đặc điểm ngoại hình: Một số đặc điểm cơ bản của dê Nản Định Hóa qua khảo sát ban đầu cho thấy, về ngoại hình dê Nản có màu lông khá đa dạng.
Tầm vóc nhỏ, mắn đẻ, nhưng số c 7 con đẻ ra/lứa lại thấp, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa không cao bằng những giống dê khác. Theo khảo sát ban đầu dê Nản có thân hình thấp nhỏ so với các giống dê ngoại nhập. Khối lượng cơ thể sơ sinh khoảng 1,7-1,9 kg. Dê Nản trưởng thành chỉ đạt từ 25 -30 kg/con.
Tính trung bình thì dê đực nặng khoảng 25 kg, và dê cái nặng khoảng 20 kg. Dê Nản có đầu to, đôi tai nhỏ, ngắn và dựng đứng lên, cặp sừng cũng ngắn, sắc lông màu trắng hoặc đen, có con khoang trắng đen hoặc màu cánh gián, cổ ngắn có bờm và có râu cằm.3 là hình ảnh của dê Nản được chụp tại xã Bộc Nhiêu huyện Định Hóa.3: Dê Nản ở xã Bộc Nhiêu huyện Định Hóa + Chế độ ăn uống Qua quan sát ban đầu Dê Nản ăn nhiều loại cỏ, lá và cành non của nhiều loại cây đặc biệt là cây họ đậu, các loại củ quả và hạt ngũ cốc, các phụ phẩm nông nghiệp. Người ta nuôi dê Nản theo phương thức chăn thả trên núi vào ban ngày, nhốt vào chuồng từ chiều tối. Mỗi ngày cho mỗi con dê ăn thêm khi đã về chuồng 1 – 2 kg cỏ non và lá cây họ đậu, 200 - 300g thức ăn tổng hợp (cám gạo, bột ngô, bột săn, bột đậu tượng trộn với một chút muối).
Đối với dê cái đang chửa thì tăng 1,5 lần, dê cái đang nuôi con thì tăng gấp 2 - 3 lần lượng thức ăn thêm đó. Mỗi con dê đực giống mỗi ngày cho ăn khoảng 3,5 - 4,0 kg lá cỏ tươi, 1 - 1,5 kg lá ngô hoặc lá đậu hoặc lá những cây họ đậu khác giàu chất đạm và 0,3 - 0,4 kg thức ăn tinh. c 8 +Tập tính sinh sản: Dê Nản thành thục sớm, tuổi phối giống lần đầu 6-7 tháng, đẻ 1,4 lứa/năm và 1,3 con/lứa, khoảng 2 năm đẻ 3 lứa, mỗi lứa 1-2 con. Dê cái mang thai trung bình từ 145 - 155 ngày là đẻ.
Dê con lúc mới đẻ đến khi cai sữa mất khoảng 3 tháng. Dê cái non phải đạt 7 tháng tuổi và có trọng lượng xấp xỉ 24 kg mới cho phối giống lần đầu 1. Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và ở Việt nam 1. Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới Theo số liệu thống kê của FAO – năm 2004, số lượng dê trong một số năm gần đây như sau: Số lượng dê trên thế giới và các khu vực từ năm 2001 – 2003 Bảng 1.1: Số lượng Dê trên thế giới và các nước trên khu vực (Đơn vị tính: con) Năm 2001 2002 2003 Khu vực 1.
Toàn thế giới 73. Phân bố theo nhóm nước Các nước phát triển 30.683 Các nước đang phát triển 706. Phân bố theo châu lục Châu Á 464.486 Châu Mỹ La Tinh và Caribe 34.150 Số liệu trên cho thấy, số lượng dê của thế giới tăng dần qua các năm và đến năm 2003 đạt 764. Trong đó đàn dê tập chung chủ yếu ở các nước đang phát triển với số lượng 732.