Đặt vấn đề Rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo đƣợc, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta bởi vậy bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một yêu cầu nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tƣơng tác giữa sinh vật với môi trƣờng. Rừng là hơi thở của sự sống, là một nguồn tai nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài ngƣời. Rừng điều hòa khí hậu ( tạo ra oxi, điều hòa nƣớc ngăn chặn gió bão, chống xói mòn.
bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng sống. Trong những năm qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tại việt Nam, những năm đầu thế kỷ XX, độ che phủ của rừng nguyên sinh vào khoảng 70% , giữa thế kỷ XX còn 43% đến những năm 1979-1981 chỉ còn 24% (viện điều tra quy hoạch rừng thời điểm hiện nay nƣớc ta còn khoảng 13,4 triệu ha rừng, trong đó có khoảng 11 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2 triệu ha rừng trồng không chỉ ở riêng Việt Nam mà tất cả các nƣớc trên Thế Giới diện tích rừng ngày càng bị tán phá nặng nề, và bị suy giảm nghiêm trọng theo thống kê của cục kiểm lâm tính đến tháng 11/2011, cả nƣớc ra đã có 2023,76 ha, trong đó có khoảng 872,28 ha là rừng tự nhiên và 828,98 ha rừng trồng. Nhƣng chính vì tình trạng khai thác bừa bãi rừng nên thảm thực vật đã và đang bị suy thoái, không những vậy rừng sau khai thác hầu nhƣ bị đảo lộn toàn bộ về cấu trúc quá trình tái sinh diễn thế theo chiều hƣớng thoái bộ so h 2 với ở tình trạng nguyên sinh hoặc trƣớc khi khai thác, nhất là ở các lâm phần không đƣợc quản lý tốt.
Vai trò của rừng rất to lớn, thế nhƣng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lƣợng và chất lƣợng. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc hàng năm trên thế giới có 11 triệu ha rừng bị phá hủy, riêng khu vực Châu á Thái Bình Dƣơng hàng năm có 1,8 triệu ha rừng bị phá hủy, tƣơng đƣơng mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diên tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26%.Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi ,đốt nƣơng làm rẫy.
Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thỏa đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống về hệ sinh thái rừng. Do nghiên cứu cấu trúc rừng đƣợc xem là cơ sở quan trọng nhất, giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỷ thuật tác động chính xác và rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền. Ở nƣớc ta để có cơ sở cho trồng rừng hỗn giao đảm bảo tính khoa học và thực tiễn góp phần tích cực trong trồng rừng phòng hộ. Bản chất mỗi quan hệ giữa các loài cây với nhau là rất biện chứng bởi có những cây mang mối quan hệ tƣơng trợ.
Để có cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ giữa các loài cây một cách rõ ràng hơn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : ''Nghiên ứu m i qu n h t nhiên gi á oài y r ng v i oài y S u (Dracontomelon costatum Blume) và y Mu ng ho vàng Cassia fistula L) t i n u i , T nh K n. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc một số đặc điểm cấu trúc rừng nơi sinh sống của hai loài cây nghiên cứu Sấu (Dracontomelon costatum Blume và cây Muồng hoa vàng (Cassia fistula L tại vƣờn Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn. - Xác định mối đƣợc quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác với hai loài cây nghiên cứu Sấu (Dracontomelon costatum Blume và cây Muồng hoa vàng (Cassia fistula L tại vƣờn Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn. - Đề xuất đƣợc tập đoàn cây trồng rừng hỗn giao với loài cây Sấu (Dracontomelon costatum Blume và cây Muồng hoa vàng (Cassia fistula L tại vƣờn Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các vùng sinh thái tƣơng tƣơng tự nói chung.
Ý nghĩa nghiên cứu 1.Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Bổ sung những cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng với loài cây Sấu (Dracontomelon costatum Blume và cây Muồng hoa vàng (Cassia fistula L). Đồng thời giúp cho sinh viên tiếp cận phƣơng pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn của khoa học đặt ra. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Trên cơ sở các mối quan hệ tự nhiên giữa các loài, ta chỉ ra ở trên là cơ sở khoa học quan trọng để Vƣờn Quốc Gia Ba Bể cũng nhƣ các vùng sinh thái lân cận có thể tham khảo lựa chọn cây trồng. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Rừng tự nhiên nƣớc ta có tổ thành loài cây đa dạng và phong phú. Song mỗi một loài cây lại có một vùng phân bố nhất định, sự phân bố này có liên quan chặt chẽ với điều kiện hoàn cảnh của môi trƣờng xung quanh. Trong các hệ sinh thái rừng mƣa nhiệt đới, ngoài các yếu tố về điều kiện của môi trƣờng, sự tồn tại của các loài trong cùng một lâm phần còn phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại giữa các loài, nghĩa là ngoài sự cạnh tranh về điều kiện sống, sự cùng tồn tại của các loài còn chịu ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp bởi các chất tiết của các loài sống cạnh nó (gọi là phitônxit thông qua lá, hoa, rễ. Trong một lâm phần khi các loài có đủ không gian dinh dƣỡng nhƣng vì ảnh hƣởng bởi phitônxit của các loài cây xung quanh nên có thể diễn ra theo hai chiều hƣớng: hoặc là cùng tồn tại hoặc là bài xích lẫn nhau.
Chúng cùng tồn tại khi phitônxit của các loài không có ảnh hƣởng xấu đến nhau hoặc kích thích sự sinh trƣởng phát triển của các loài xuang quanh, ngƣợc lại chúng sẽ loại trừ nhau khi phitônxit của loài này có ảnh hƣởng xấu, kìm hãm sự phát triển của các loài bên cạnh. Vì thế nghiên cứu sâu về mối quan hệ qua lại giữa các loài trong rừng tự nhiên là rất cần thiết cho việc điều chỉnh tổ thành loài cây trong các lâm phần rừng tự nhiên khi cần tác động các giải pháp lâm sinh và quan trọng hơn là làm cơ sở cho việc lựa chọn và phối hợp các loài cây trong trồng rừng hỗn loài.[8] Phục hồi rừng có thể đƣợc hiểu một cách khái quát là quá trình ngƣợc lại của sự suy thoái. Theo quá trình diễn thế, sau khi phải chịu những tác động phi tự nhiên phá vỡ cân bằng sinh thái; với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên và cơ chế nội cân bằng sinh thái thì nó có xu hƣớng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái ban đầu , quá trình này đƣợc gọi h 5 là diễn thế phục hồi. Nhƣng với những tác động quá mạnh vƣợt ra ngoài ngƣỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra.
Lúc này cần những hoạt động của con ngƣời nhằm thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn nhất. Nhƣ vậy, hoạt động phục hồi rừng đƣợc hiểu là các hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm làm đảo ngƣợc quá trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tùy thuộc vào từng đối tƣợng và mục đích cụ thể. Lamb và Gilmour (2003 đã đƣa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngƣợc quá trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục và phục hồi rừng.
Các khái niệm này đƣợc hiểu nhƣ sau: - Cải t o h y à th y thế re m tion or replacement): Khái niệm này đƣợc hiểu là sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm thực vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh. Ở vùng nhiệt đới, các xã hợp thực vật đƣợc thay thế này thƣờng đơn giản nhƣng lại có năng suất cao hơn thảm thực vật gốc. Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi… là đối tƣợng của hoạt động này và cũng là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng các loài cây nhập nội sinh trƣởng nhanh hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm thực vật gốc. - Khôi phụ restor tion : Hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì khôi phục lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo là đƣa khu rừng đó trở về nguyên trạng ban đầu của nó.
Đƣa về nguyên trạng bao gồm cả các thành phần thực vật, động vật và toàn bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh thái. - Phụ h i reh bi it tion : Khái niệm phục hồi rừng đƣợc định nghĩa nhƣ là gạch nối (trung gian giữa cải tạo và khôi phục. Trong trƣờng hợp này, một vài cố gắng có thể đƣợc thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của h 6 thảm rừng gốc, đó thƣờng là tầng cây cao bao gồm cả các loài bản địa đƣợc thay thế bằng các loài có giá trị kinh tế và sinh trƣởng nhanh hơn. Ngoài ba nhóm hành động này, việc phục hồi rừng còn bao gồm: - Tr ng r ng fforest tion : Trồng rừng đƣợc hiểu là sự chuyển đổi từ đất không có rừng thành rừng thông qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên (Smith, 2002.
- Tr ng i r ng reforest tion : Là hoạt động trồng rừng trên đất không có rừng do bị mất rừng trong một thời gian nhất định.