Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, kiến nghị các hàm ý quản trị. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu và tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây để làm căn cứ đề xuất mô hình nghiên cứu.
Các khái niệm chính liên quan 2. Lực lượng bán hàng Lực lượng bán hàng là một nhóm có vai trò chính là tương tác với khách hàng và có mục tiêu là xây dựng mối quan hệ và chốt đơn hàng (Kotler & Armstrong, 2018; Johan et al. Bên cạnh đó, Silva, Moutinho & Vale (2022) cho rằng lực lượng bán hàng là một trong những yếu tố trong hỗn hợp tiếp thị, cụ thể là khuyến mãi và là một yếu tố quan trọng trong việc tăng hiệu suất bán hàng. Cùng quan điểm đó, Sant’Anna, Mussi, Xavier & Luna (2020) và Johan et al.
(2022) đã khẳng định rằng lực lượng bán hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị lực lượng bán hàng Theo Rich (2016) thì: “Quản trị lực lượng bán hàng có nghĩa là lập kế hoạch, định hướng và kiểm soát bán hàng cá nhân, bao gồm tuyển dụng, lựa chọn, thiết bị, phân công, định tuyến, giám sát, thanh toán và thúc đẩy khi các nhiệm vụ áp dụng cho lực lượng bán hàng cá nhân”. Vì vai trò quan trọng của lực lượng bán hàng nên Reddy et al. (2019) đã đưa ra kết luận rằng quản trị lực lượng bán hàng đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
Cảm nhận sự hỗ trợ của tổ chức Eisenberger, Huntington, Hutchison & Sowa (1986) đã nghiên cứu và kết luận rằng nếu một tổ chức hỗ trợ nhân viên thì sẽ nhận được những phản ứng tích cực của nhân viên như sự hài lòng và cam kết với tổ chức. Eisenberger et al. (1986) đã xác định hỗ trợ này là nhận thức về hỗ trợ của tổ chức (POS- perceived organizational support), đề cập đến mức độ mà nhân viên tin rằng tổ chức của họ đánh giá cao những đóng góp và cảm nhận của họ và đáp ứng nhu cầu xã hội của họ. Khi nhận thức được điều này thì nhân viên sẽ có xu hướng tăng cường động lực làm việc cho tổ chức, nhân viên sẽ tìm cách đáp lại bằng thái độ làm việc tích cực hơn và nỗ lực làm việc hơn.
Mở rộng sự hỗ trợ trong mối liên hệ giữa sự tương tác và tham gia của nhân viên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức của nhân viên về việc liệu họ có 6 được coi trọng bởi tổ chức của họ và các thành viên trong tổ chức ảnh hưởng đến hành vi của họ. Sử dụng truyền thông xã hội tại nơi làm việc Theo Kaplan & Haenlein (2012), phương tiện truyền thông xã hội là một nhóm các ứng dụng dựa trên Internet cho phép người dùng tạo và trao đổi nội dung, có khả năng kết nối xã hội để chia sẻ thông tin với các cơ chế tìm kiếm và tính năng bảo mật thông qua tài khoản người dùng. Các cá nhân sử dụng phương tiện truyền thông xã hội cho các mục đích khác nhau như có được thông tin về các sản phẩm và phát triển các mối liên hệ. Utz (2016) cho rằng nhân viên thường xuyên sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội công khai để tiếp cận, làm việc và tham gia vào việc chia sẻ thông tin liên quan đến công việc.
Ancillai et al. (2019) cũng nhận định rằng nhân viên bán hàng sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để có được những hiểu biết sâu sắc về khách hàng, họ kết nối những người thích hợp cùng tiềm năng của các đối tác và chia sẽ những vấn đề về kỹ thuật số liên quan. Điều này giúp cho nhân viên chủ động hơn trong việc phục vụ khách hàng, tìm kiếm khách hàng tiềm năng theo những thông tin định hướng, kết nối cũng như tương tác cùng khách hàng (Bowen et al. Bowen et al.
(2021) cũng gợi ý rằng sử dụng phương tiện truyền thông xã hội có thể có những tác động khác nhau tuỳ thuộc vào loại vai trò bán hàng và những chức năng công việc cụ thể. Không phải tất cả các doanh nghiệp đều cho phép việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội tại nơi làm việc. Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp không cho phép nhân viên sử dụng các trang mạng xã hội (Brodkin, 2008). Tuy nhiên với sự phát triển của điện thoại thông minh thì việc ngăn chặn này gần như là không thể.
Việc cấm sử dụng các trang mạng xã hội tại nơi làm việc có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp như ngăn cản nhân viên khám phá các cơ hội kinh doanh, thu thập thông tin và hợp tác trong công việc (Bennett et al. Chất lượng truyền thông Vlosky, Fontenot & Blalock (2000) đã nhận thấy rằng tính kịp thời của việc trao đổi thông tin là lợi ích quan trọng nhất đạt được từ việc liên kết với các mạng bên ngoài. Bên cạnh đó, Golicic, Davis, McCarthy & Mentzer (2002) thừa nhận rằng chất lượng truyền thông cao cho phép các đối tác phân tích và sử dụng thông tin thu được 7 một cách tốt nhất. Điều đó chứng minh tầm quan trọng của việc truyền đạt các mục tiêu dự án đến hiệu suất mà dự án đạt được (Ammeter & Dukerich, 2002).
Lòng tin của nhân viên Trong công ty, làm việc theo nhóm tốt đòi hỏi phải thường xuyên giao tiếp và tin tưởng lẫn nhau (Jarvenpaa & Leidner, 1999). Khi nghiên cứu về mối quan hệ của nhân viên trong một tổ chức thì yếu tố Lòng tin hay Sự tin tưởng là một yếu tố thường xuyên được đề cập. Lòng tin là một thành phần quan trọng khi sử dụng truyền thông xã hội tại nơi làm việc, điều này góp phần vào thành quả công việc của nhân viên. Trong mỗi hành động tập thể, nhất là trong một mạng xã hội, các thành viên tham gia được đặc trưng bởi sự thiện chí, sự gắn kết đối với tập thể và hành vi ủng hộ xã hội (Wasko, Teigland & Faraj, 2009).
Panteli & Sockalingam (2005) cho rằng sự tin tưởng lẫn nhau của nhân viên được coi là một trong những cân nhắc cơ bản đối với việc sắp xếp tổ chức, đặc biệt là đối với những tổ chức có tính chất ảo. Lòng tin không phát triển trong một sự kiện trao đổi thông tin đơn lẻ, mà thông qua sự tương tác lặp đi lặp lại liên quan đến những hiểu biết và giá trị được chia sẻ (Gössling, 2004). Thành quả công việc của nhân viên Theo Whetten & Cameron (1998), thành quả công việc của nhân viên là sản phẩm của năng lực cá nhân cộng hưởng cùng với việc được động viên. Bên cạnh đó, Cumming & Schwab (1973) cũng nhận định rằng thành quả công việc là kết quả cộng hưởng của năng lực cá nhân và yếu tố môi trường có tác động trong suốt quá trình làm việc của nhân viên.
Bên cạnh đó, theo Motowidlo (2003), thành quả công việc là tổng giá trị mong đợi đối với tổ chức của các giai đoạn hành vi riêng biệt mà cá nhân thực hiện trong khoảng thời gian nhất định. Ý tưởng này cho thấy rằng thành quả công việc là một thuộc tính của hành vi. Thứ nhất, đây là thuộc tính tổng hợp của nhiều hành vi riêng biệt xảy ra trong một khoảng thời gian. Thứ hai, đặc tính của hành vi mà thành quả công việc đề cập đến là giá trị mong đợi đối với tổ chức.
Giới thiệu về thị trường cung cấp dịch vụ Internet của VNPT Bến Tre. Quá trình hình thành và phát triển VNPT Bến Tre là đơn vị kinh tế trực thuộc, hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). VNPT Bến Tre được thành lập trên cơ sở tách ra 8 từ Bưu điện tỉnh Bến Tre từ ngày 06/12/2007 theo quyết định số 599/QĐ-TCCB/HĐQT của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, trên cơ sở tái cấu trúc mô hình kinh doanh của Tập đoàn theo quyết định 06/2006/QĐ-TTg ngày 09/01/2006 của Thủ tướng chính phủ V/v thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Hiện VNPT Bến Tre đang cung cấp các dịch vụ và giải pháp chính chủ yếu tới khách hàng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bao gồm: - Dịch vụ điện thoại cố định và cố định Gphone; - Dịch vụ điện thoại di động (trả trước và trả sau); - Dịch vụ Internet (Internet cáp quang FiberVNN); - Dịch vụ truyền hình số theo yêu cầu MyTV; - Dịch vụ cho thuê kênh truyền riêng (thuê kênh riêng, Metronet, thuê luồng truyền dẫn.); - Cung cấp giải pháp ứng dụng Công nghệ Thông tin (hoá đơn điện tử, giải pháp hệ thống một cửa, giải pháp họp hội đồng.); - Triển khai dự án thành phố thông minh (IOC), nông nghiệp thông minh (Smart Agriculture), Du lịch thông minh (Bentretourism).
- Triển khai hệ sinh thái giáo dục Vnedu. - Triển khai giải pháp không dùng tiền mặt VNPT money. Sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi - Tầm nhìn: Giữ vai trò chủ đạo về dịch vụ Viễn thông – Công nghệ thông tin (VT- CNTT) trên thị trường tỉnh Bến Tre và là một trong những đơn vị nổi trội của Tập đoàn. Luôn là sự lựa chọn số 1 của khách hàng trong sử dụng dịch vụ VT-CNTT trên địa bàn.
- Sứ mệnh: Đảm bảo cơ sở hạ tầng VT-CNTT vững chắc, hiện đại cho sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre. Thỏa mãn các nhu cầu sử dụng dịch vụ VT- CNTT của khách hàng mọi lúc, mọi nơi. Tôn vinh và đánh giá giá trị đích thực của người lao động trong môi trường kinh doanh mới, hiện đại. - Giá trị cốt lõi: Đổi mới – Thông hiểu – Phát triển bền vững.
Các nghiên cứu liên quan 2. Nghiên cứu về Cảm nhận sự hỗ trợ của tổ chức Utomo et al. (2023) khi nghiên cứu về hiệu suất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc điều tra vai trò của hành vi làm việc sáng tạo, niềm tin của tổ chức, 9 sự hỗ trợ của tổ chức được nhận thức đã xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 04 yếu tố: cảm nhận hỗ trợ tổ chức (POS), niềm tin với tổ chức, hành vi đổi mới công việc (IWB), hiệu suất công việc. H1 Organizational POS Trust H5 H3 H2 Innovative H4 work behavior Performance (IWB) Hình 2.
Mô hình nghiên cứu của Utomo et al.