Chương 1 trình bày tổng quan nghiên cứu về các nội dung: sự cần thiết của nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của nghiên cứu và kết cấu của luận án. Sự cần thiết của nghiên cứu 1. Về mặt thực tiễn Sau hơn 30 năm đổi mới, xuất khẩu đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế Việt Nam. Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa còn dưới 1 tỷ USD thì năm 2019 là 264 tỷ USD (Thống kê hải quan, 2020), năm 2020 là 283 tỷ USD (Thống kê hải quan, 2021a).
Theo công bố xếp hạng của WTO, nếu như năm 2006 Việt Nam xếp hạng 50 về xuất khẩu thì năm 2018 đã vươn lên thứ 26 (VnEconomy, 2020). Với kết quả này, Việt Nam liên tục nằm trong nhóm 30 nước, vùng lãnh thổ có trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cao nhất trên thế giới. Trong nội khối ASEAN, Việt Nam đứng vị trí thứ ba về xuất khẩu, chỉ sau Singapore và Thái Lan (Định Hóa, 2019). Hơn nữa, từ năm 2012, Việt Nam đã chuyển từ thâm hụt thương mại sang thặng dư thương mại.
Năm 2019 thặng dư thương mại tăng gần gấp đôi so với năm 2018, lên đến hơn 11 tỷ USD (Bộ Công Thương, 2020a), năm 2020 con số này đạt gần 20 tỷ USD (Thống kê hải quan, 2021b). Tuy nhiên khi xem xét số liệu thặng dư thương mại, một số vấn đề nổi lên cần được giải quyết. Một là, hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu mỗi năm là từ khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Cụ thể là, năm 2017 kim ngạch xuất khẩu của khối này lên tới 153 tỷ USD, chiếm 71%, năm 2018 là 171,53 tỷ USD, chiếm 70%, năm 2019 là 179,2 tỷ USD, chiếm 68% (Bộ Công Thương, 2018, 2019, 2020a), năm 2020 là 202,89 tỷ USD, chiếm 72% (Thống kê Hải quan, 2021b).
Qua đây cho thấy hoạt động xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI áp đảo so với doanh nghiệp nội. Hai là, dù cán cân thương mại thặng dư nhưng lại thâm hụt ở một số thị trường như châu Á (ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), châu Đại Dương, châu Phi. Trong đó, ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN+3) là những nước đã ký các FTA với Việt Nam, góp phần tăng xuất khẩu sang các nước này chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Bộ Công Thương, 2018, 2019, 2020a). Tuy nhiên, ở nhóm thị trường này, cán cân thương mại lại bị thâm hụt mạnh nhất.
Cụ thể là trong 4 năm gần đây 2017, 2018, 2019, 2020 thâm hụt với ASEAN+3 lần lượt là 61,67 tỷ USD; 60,88 tỷ USD, 67,3 tỷ USD và 72,5 tỷ USD (Tác giả tính toán từ số liệu báo cáo xuất nhập khẩu 2018, 2019, 2020a của Bộ Công Thương và Thống kê Hải quan -2- 2021b– Phụ lục 1, Bảng PL1. Ba là, với 98% doanh nghiệp là DNNVV nhưng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này chỉ chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc và chỉ khoảng 21% DNNVV tham gia mạng lưới kinh doanh toàn cầu, trong khi đó con số này ở những quốc gia khu vực là cao hơn như Thái Lan là 30%, Malaysia là 46% (Phùng Thế Đông, 2019). DNNVV là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Các DNNVV ở Việt Nam hàng năm đóng góp khoảng 45% GDP của cả nước, 31% tổng số thu ngân sách Nhà nước và tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội (Phùng Thế Đông, 2019).
Tuy đóng vai trò quan trọng là vậy nhưng các DNNVV còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vay, sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn, bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động, năng lực tiếp cận với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh còn hạn chế. Với những tồn tại trên về sự áp đảo trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp FDI, thâm hụt thương mại với ASEAN+3, những hạn chế của DNNVV Việt Nam thì vấn đề đặt ra là làm sao đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cho DNNVV, từ đó giúp cải thiện cán cân thương mại với nhóm thị trường đang thâm hụt mạnh nhất ASEAN+3?. Là một quốc gia nông nghiệp với dân số ở nông thôn gần 65,6% (Tổng cục Thống kê, 2019), 34,7% lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực nông, lâm, thủy sản (Tổng cục thống kê, 2020), nông sản là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu nông sản trung bình hàng năm từ 2005-2019 là gần 12 tỷ USD, chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Tính toán của tác giả từ báo cáo thực hiện xuất khẩu nông lâm thủy sản giai đoạn 2005-2010, 2011-2015 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2011, 2016 và số liệu thống kê qua các năm 2016 đến 2019 – Phụ lục 1, Bảng PL1.
Tỷ trọng xuất khẩu nông sản tuy có giảm dần qua mỗi năm phản ánh cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song ngoài là hàng xuất khẩu truyền thống, nông sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Việt Nam đã lọt vào top 15 nước xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới (Vũ Kim Dũng, 2019). Một số nông sản Việt Nam hiện có thứ hạng cao trên thị trường quốc tế như hạt điều, hạt tiêu (hạng nhất), gạo, cà phê (hạng hai), chè (hạng năm)… Xét về thị trường xuất khẩu nông sản thì ASEAN+3 thuộc những thị trường chủ yếu của Việt Nam.
Trong ba năm gần đây (2017, 2018, 2019) những vị trí đầu thị trường xuất khẩu nông sản Việt Nam theo thứ tự là Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc (Bộ Công Thương, 2018, 2019, 2020a). -3- Với vai trò quan trọng của xuất khẩu nông sản và thị trường lớn trong xuất khẩu nông sản là ASEAN+3, bài toán cải thiện thâm hụt thương mại với ASEAN+3 có thể được giải quyết bằng việc tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của DNNVV Việt Nam sang nhóm thị trường này. Việc DNNVV đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang ASEAN+3 là cần thiết ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô. Ở cấp vĩ mô, việc đẩy mạnh xuất khẩu sang ASEAN+3 không những góp phần cải thiện cán cân thương mại thâm hụt ở nhóm thị trường này mà còn tạo việc làm cho đại bộ phận dân số.
Ở cấp vi mô, xuất khẩu sang thị trường ASEAN+3 là thị trường gần nên phù hợp DNNVV với nguồn lực hạn chế. Hơn nữa nhóm thị trường này sẽ là bàn đạp để DNNVV phát triển xuất khẩu sang các thị trường xa hơn, khó tính hơn nhưng nhiều tiềm năng, cơ hội phát triển. Để đạt được việc này, vấn đề đặt ra là phải hiểu được doanh nghiệp nhận thức có những động cơ nào khuyến khích, những rào cản nào cản trở làm ảnh hưởng kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp sang nhóm thị trường ASEAN+3. Xuất khẩu nông sản sang mỗi thị trường ASEAN+3, doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi nhưng đối mặt cũng không ít các khó khăn.
Năm 2019, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông sản Việt Nam với 5,92 tỷ USD, giảm 7,4% so với 2018, xuất khẩu nông sản sang ASEAN đạt 2,07 tỷ USD, tăng nhẹ 1,3%, kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc và Nhật Bản là hơn 300 triệu USD (Thống kê hải quan, 2020). Từ năm 2016 đến 2019, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất của nông sản, thủy sản Việt Nam (chiếm 25,4%), là thị trường xếp thứ nhất trong xuất khẩu của Việt Nam về rau quả, cao su và sắn các loại, xếp thứ 4 về chè, thứ 9 về cà phê và là thị trường tiềm năng đối với một số nông sản khác. Tuy nhiên, từ đầu năm 2019, Trung Quốc bắt đầu gia tăng yêu cầu về chất lượng như gắt gao trong kiểm dịch hàng nhập khẩu nên xuất khẩu nông sản sang thị trường này không còn dễ như trước. Vì vậy sang năm 2020, Trung Quốc không còn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông sản Việt Nam mà xuống thị trường lớn thứ 2 sau Hoa Kỳ và thị phần giảm còn 24,6%, chênh lệch không đáng kể so với Hoa Kỳ (26,2%) (Đỗ Hương, 2020).
Tốc độ tăng trưởng trung bình kim ngạch xuất khẩu trong 3 năm 2017, 2018, 2019 một số mặt hàng nông sản chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc như sau: cao su 3,8%, điều 12%, cà phê 22%, chè 33%, rau củ quả 66%, sắn giảm nhẹ 0,17%, gạo giảm 52% (Tính toán của tác giả dựa vào tổng hợp các số liệu thống kê – Phụ lục 1, Bảng PL1. Về thị phần một số mặt hàng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc trong 3 năm 2017, 2018, 2019: cao su, chè và rau củ quả đều tăng dần với thị phần trung bình là 9%, 10% và 12%. Thị phần trung bình của cà phê là 11% và gạo là 39% (Tính toán của tác giả dựa vào tổng -4- hợp các số liệu thống kê của ITC, 2021 – Phụ lục 1, Bảng PL1. Sắn và các sản phẩm từ sắn Việt Nam chiếm 87%, hạt điều 18% thị phần ở Trung Quốc (Bộ Công Thương, 2016).
ASEAN là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ 4 của Việt Nam, sau Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ (Bộ Công Thương, 2017, 2018, 2019). Năm 2020 thị phần nông sản Việt Nam xuất sang ASEAN vẫn đứng thứ 4 sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU với con số là 9,18% (Đỗ Hương, 2020). Nông sản Việt Nam xuất khẩu sang ASEAN hầu hết đều được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN với phần lớn thuế suất các mặt hàng về 0%-5% nhưng do giá cả phụ thuộc biến động thế giới, giá trị thấp nên kim ngạch xuất khẩu không ổn định. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này gồm cà phê, rau quả, chè, hạt tiêu, sắn, gạo… Tốc độ tăng trưởng trung bình kim ngạch xuất khẩu trong 3 năm 2017, 2018, 2019 một số mặt hàng nông sản chủ yếu xuất khẩu sang ASEAN như sau: gạo tăng 55%, rau quả tăng 27%, chè tăng 19%, cà phê tăng 5%, tiêu giảm 13% (Tính toán của tác giả dựa vào tổng hợp các số liệu thống kê của ITC, 2021 – Phụ lục 1, Bảng PL1.