Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Dũng, bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9.31.04.01).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, luận án xuất phát từ vai trò nền tảng của bậc học mầm non đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Những lệch lạc trong giai đoạn đầu đời có nguy cơ dẫn tới các rối loạn tâm lý ở các giai đoạn phát triển tiếp theo. Trong đó, mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo giữ vị trí trung tâm, tác động trực tiếp đến sự phát triển nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ. Tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, xã hội lớn với mạng lưới giáo dục mầm non phát triển đa dạng – bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tế vẫn tồn tại những hiện tượng tiêu cực tại một số cơ sở giáo dục, đặc biệt là khối trường mầm non tư thục (như hiện tượng giáo viên quát mắng, đe dọa hoặc đánh trẻ). Điều này đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu hệ thống nhằm xác lập cơ sở khoa học và đánh giá thực trạng quan hệ sư phạm mầm non, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện cụ thể.
Mục đích nghiên cứu của luận án là từ kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo, tiến hành thử nghiệm biện pháp nâng cao mối quan hệ này, đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm xây dựng mối quan hệ tích cực giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nội dung:
- Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo.
- Xây dựng cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thử nghiệm biện pháp nâng cao mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo.
Hệ thống giả thuyết khoa học của luận án gồm 3 giả thuyết:
- Mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo là mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau, được thể hiện qua ba khía cạnh: Quan hệ phụ thuộc; Quan hệ gần gũi; Quan hệ xung đột. Ba khía cạnh quan hệ này lại được thể hiện thông qua cảm xúc và hành vi giữa các chủ thể. Quan hệ phụ thuộc giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo được thể hiện rõ hơn quan hệ gần gũi và quan hệ xung đột.
- Mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và phụ huynh của trẻ mẫu giáo có tương quan thuận và có ý nghĩa đối với mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo. Nếu thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ giữa phụ huynh của trẻ mẫu giáo và giáo viên mầm non thì có thể nâng cao được mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo theo hướng tích cực.
- Mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo có thể được cải thiện thông qua tác động thử nghiệm bằng biện pháp "Vòng xoay cảm xúc".
Đối tượng nghiên cứu là biểu hiện và mức độ quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo. Phạm vi nội dung tập trung vào ba khía cạnh (quan hệ phụ thuộc, quan hệ gần gũi, quan hệ xung đột) biểu hiện qua cảm xúc và hành vi trong bốn dạng hoạt động cơ bản tại trường mầm non: hoạt động giao lưu cảm xúc; giáo viên tổ chức hoạt động với đồ vật của trẻ; hoạt động chơi của giáo viên với trẻ; giáo viên tổ chức hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân cho trẻ. Khách thể khảo sát gồm 220 người (210 trẻ mẫu giáo được khảo sát thông qua 50 giáo viên đánh giá và 10 giáo viên tham gia phỏng vấn sâu) tại 10 trường mầm non công lập và tư thục thuộc 5 quận tại Thành phố Hồ Chí Minh.
| Quận |
Danh sách trường mầm non khảo sát |
| Quận 3 |
Mầm non Tuệ Đức, Mầm non 10 |
| Quận 4 |
Mầm non Ban Mai, Mầm non 14 |
| Quận 6 |
Mầm non Rạng Đông 4, Mầm non Ngôi sao |
| Quận 7 |
Mầm non Tắc Rỗi, Mầm non Mặt trời bé con cơ sở 1 |
| Quận 8 |
Mầm non Tuổi ngọc, Mầm non Hoàng Mai 1 |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống tư liệu quốc tế và trong nước về quan hệ giữa giáo viên và học sinh mầm non, phân chia thành các nhóm chủ đề cụ thể:
Ở hướng nghiên cứu quốc tế, về vai trò của mối quan hệ, Verschueren và Koomen (2012) xác định giáo viên là nhân vật gắn bó đặc biệt có chức năng chăm sóc, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ, nhấn mạnh độ nhạy cảm của giáo viên; Kiuru (2015) phân tích sự nỗ lực tích cực của trẻ; Hastings và Bham (2003) nghiên cứu hành vi học sinh dẫn đến sự kiệt sức của giáo viên; Howes và Hamilton (1993), Howes, Matheson và Hamilton (1994), Pianta (1997), Doll (1996), Hamre và Pianta (2001) làm rõ vai trò thích ứng trường học; Riley (2009) xem xét kỹ năng quan sát tinh thần học sinh; Vu (2008) phân tích sự hỗ trợ đối với trẻ có nguy cơ chậm phát triển; Sabol và Pianta (2012) cập nhật ba lĩnh vực tích hợp gồm sự phù hợp giữa mối quan hệ của trẻ với giáo viên và phụ huynh, vai trò kiểm duyệt của mối quan hệ đối với trẻ có nguy cơ, và đào tạo giáo viên. Về biểu hiện của mối quan hệ, Robert C. Pianta (1994, 2001), Pianta và Steinberg (1992), Ladd và Burgess (1999), Bracken và Crain (1994), Wentzel (1996, 1997, 1998), Mason, Hajovsky, McCune và Turek (2017), Anne-Katrien (2021) phân định các khía cạnh gần gũi, xung đột, phụ thuộc và xây dựng thang đo STRS. Về tác động đến học tập và hành vi, các nghiên cứu của Baker và Alamos (2017), Baker (2006), Doumen và Soenens (2008), Roorda và cộng sự (2011, 2017, 2019), Espelage và Swearer (2003), Garbarino (1999), Birch và Ladd (1997, 1998), Hamre và Pianta (2001, 2005), Portilla và cộng sự (2014), Rudasill và cộng sự (2010, 2011) chỉ ra mối liên hệ giữa sự gần gũi với kết quả học tập và sự thích ứng xã hội. Về các yếu tố ảnh hưởng, Jerome và cộng sự (2009), Koepke và Harkins (2008), Saft và Pianta (2001), Spilt và Jak (2012), Henricsson và Rydell (2004), Kesner (2000), White và Dobbs-Oates (2015), Howes (2000), Fumoto (2011), McKinnon và Blair (2019), Bosman, Zee, Koomen và Curby (2020), Parker và Neuharth-Pritchett (2006) đã kiểm tra tác động của giới tính, độ tuổi, hoàn cảnh gia đình, sự căng thẳng và niềm tin sư phạm của giáo viên.
Ở hướng nghiên cứu trong nước, các tác giả tập trung vào giao tiếp và ứng xử sư phạm: Ngô Công Hoàn (1995, 1997, 2006) nghiên cứu giao tiếp, ứng xử và giáo dục giá trị đạo đức; Nguyễn Thạc (1995) phân tích cấu trúc tâm lý hoạt động sư phạm và phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ; Hồ Lam Hồng (2009), Trương Kim Oanh và Hồ Lam Hồng (1996) nghiên cứu phẩm chất nghề nghiệp và phát triển ngôn ngữ qua trò chơi; Trần Thị Quốc Minh (1996) nghiên cứu kỹ năng phân tích tình huống sư phạm có vấn đề; Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa (2014) tìm hiểu giao tiếp qua hoạt động chơi; Nguyễn Xuân Thức (1997) và Đinh Thị Kim Thoa (2002) nghiên cứu tính tích cực giao tiếp và xung đột tâm lý của trẻ trong vui chơi; Trần Văn Tính (2012) phân loại nội dung giao tiếp sư phạm thành nhận thức, cảm xúc, hành vi; Vũ Mạnh Quỳnh (2009) nghiên cứu tư vấn ứng xử sư phạm; Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) nghiên cứu đặc điểm giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn. Bên cạnh đó là các nghiên cứu về hành vi và nhận thức của trẻ của Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Lan Anh (2009), Nguyễn Thị Thu Hiền (2005), Nguyễn Thị Hòa (2010), Bùi Thị Hoài (2005), Đặng Hồng Phương (2010), Vũ Thị Kiều Trang (2016), Nguyễn Xuân Khoa (1997), Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thị Thu Hương và Lê Thị Ánh Tuyết (2012).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trong nước đã đề cập nhiều khía cạnh giao tiếp sư phạm, nhưng chưa có công trình nào khảo sát một cách đồng bộ cấu trúc ba khía cạnh (quan hệ phụ thuộc, quan hệ gần gũi, quan hệ xung đột) biểu hiện qua cảm xúc và hành vi trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục cụ thể tại trường mầm non trên địa bàn đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời chưa kiểm định mô hình hồi quy dự báo từ các yếu tố phụ huynh, kỹ năng xã hội, hành vi của trẻ và chưa tiến hành thử nghiệm can thiệp bằng biện pháp tâm lý sư phạm chuyên biệt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng mô hình khái niệm dựa trên lý thuyết hệ thống phát triển và lý thuyết gắn bó (Attachment Theory) của John Bowlby, Mary Ainsworth và Robert C. Pianta. Mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ được cấu trúc qua ba khía cạnh dựa trên quan điểm của Ladd, Briggs-Gowan, Jones, Little (2003) và Elicker, Noppe, Cheryl (2014):
- Quan hệ phụ thuộc: Phản ánh mức độ lệ thuộc của trẻ vào giáo viên, tìm kiếm sự bảo bọc, hướng dẫn liên tục.
- Quan hệ gần gũi: Phản ánh mức độ ấm áp, cởi mở, tin cậy và gắn bó cảm xúc tích cực giữa giáo viên và trẻ.
- Quan hệ xung đột: Phản ánh mức độ bất hòa, mâu thuẫn, căng thẳng và tương tác tiêu cực giữa hai chủ thể.
Bốn cách tiếp cận phương pháp luận được sử dụng gồm: tiếp cận hệ thống, tiếp cận tâm lý học lứa tuổi, tiếp cận tâm lý học hoạt động và tiếp cận liên ngành (kết hợp tâm lý học và giáo dục học mầm non). Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng thang đo STRS (Student-Teacher Relationship Scale) của Robert C. Pianta (2001) phiên bản dài gồm 28 mục khảo sát theo thang Likert 5 điểm, đánh giá ba tiểu thang đo: gần gũi, xung đột và phụ thuộc. Phiếu hỏi cũng khảo sát các yếu tố tác động đến mối quan hệ. Dữ liệu được kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's alpha.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 10 giáo viên mầm non nhằm thu thập thông tin định tính về trải nghiệm cảm xúc và cách xử lý xung đột trong thực tế.
- Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi, biểu hiện cảm xúc của giáo viên và trẻ trong các bối cảnh tự nhiên tại lớp học.
- Phương pháp thử nghiệm: Tiến hành thực nghiệm can thiệp bằng biện pháp "Vòng xoay cảm xúc" nhằm đo lường sự thay đổi mức độ mâu thuẫn giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau can thiệp.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng kiểm định t-test so sánh điểm số theo loại hoạt động, tính hệ số tương quan Pearson giữa các biến số, và xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính dự báo chất lượng mối quan hệ.
Nguồn dữ liệu khảo sát gồm 220 khách thể (210 trẻ mẫu giáo được đánh giá qua 50 giáo viên mầm non và 10 giáo viên phỏng vấn sâu) tại 10 trường mầm non thuộc 5 quận tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo
Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu quốc tế và Việt Nam. Luận điểm trọng tâm khẳng định mối quan hệ giáo viên - trẻ em là nhân tố quyết định trực tiếp tới khả năng thích nghi học đường, năng lực xã hội và hành vi của trẻ. Tác giả phân tích sáu nội dung tổng quan:
- Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh: Làm rõ vai trò của giáo viên như một đối tượng gắn bó thay thế trong môi trường lớp học (Verschueren & Koomen, 2012; Hamre & Pianta, 2001).
- Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh: Phân tích các đặc điểm của trẻ (giới tính nam, hành vi hướng ngoại, tính hiếu động thường gia tăng xung đột) và đặc điểm giáo viên (áp lực trách nhiệm giải trình, trình độ đào tạo).
- Các nghiên cứu về các tác nhân gây căng thẳng với học sinh và giáo viên: Chỉ ra tình trạng kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên và các phản ứng tiêu cực khi học sinh có hành vi chống đối.
- Các nghiên cứu về vai trò của mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh: Phân tích tác động tích cực của sự gần gũi đối với việc phát triển kỹ năng đọc viết, toán học và giảm thiểu các rủi ro xã hội.
- Các nghiên cứu về các quan điểm lý thuyết nhằm giải thích hành vi của học sinh: Khảo cứu cách tiếp cận lấy trẻ em làm trung tâm (Piaget, Vygotsky) so với tiếp cận lấy giáo viên làm trung tâm.
- Các nghiên cứu về các biện pháp để nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh: Điểm lại các mô hình can thiệp tập trung vào mối quan hệ (RFRP của Koomen & van der Leij, 2012).
Chương 2. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho đề tài:
- Làm rõ đặc trưng nghề nghiệp của giáo viên mầm non, chức năng kép của trường mầm non là chăm sóc và giáo dục.
- Định nghĩa bản chất mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo là quá trình tương tác hai chiều, tương hỗ và có sự phụ thuộc lẫn nhau.
- Phân tích cấu trúc ba khía cạnh của mối quan hệ: Quan hệ phụ thuộc (sự bám dính, tìm kiếm sự trợ giúp quá mức của trẻ); Quan hệ gần gũi (sự thấu cảm, cởi mở, ấm áp); Quan hệ xung đột (sự bực bội, bất hòa, căng thẳng). Cả ba khía cạnh được biểu hiện qua hai thành tố: cảm xúc và hành vi.
- Xác định bốn dạng hoạt động cơ bản diễn ra mối quan hệ: hoạt động giao lưu cảm xúc; giáo viên tổ chức hoạt động với đồ vật của trẻ; hoạt động chơi của giáo viên với trẻ; giáo viên tổ chức hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân cho trẻ.
- Hệ thống hóa các nhóm yếu tố ảnh hưởng: nhóm yếu tố từ phía giáo viên, nhóm yếu tố từ phía trẻ, nhóm yếu tố từ gia đình (mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh), và nhóm yếu tố quản lý, điều kiện cơ sở vật chất của trường mầm non.
Chương 3. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu và các công cụ thực nghiệm:
- Tổ chức nghiên cứu: Xác định địa bàn khảo sát gồm 10 trường mầm non tại Quận 3, Quận 4, Quận 6, Quận 7 và Quận 8 thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể gồm 50 giáo viên đánh giá 210 trẻ mẫu giáo, cùng 10 giáo viên tham gia phỏng vấn sâu.
- Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình thiết kế và chuyển ngữ thang đo STRS của Robert C. Pianta (2001) gồm 28 câu hỏi Likert 5 điểm; bảng hỏi về các yếu tố ảnh hưởng.
- Kiểm định công cụ: Kiểm tra độ tin cậy Cronbach's alpha của các câu hỏi về quan hệ giáo viên - trẻ và các câu hỏi về các yếu tố tác động, khẳng định độ tin cậy đạt yêu cầu để tiến hành điều tra diện rộng.
- Quy trình thử nghiệm: Thiết kế kế hoạch thử nghiệm biện pháp "Vòng xoay cảm xúc" với nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu thực tiễn mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát thực trạng, phân tích thống kê và kết quả thử nghiệm. Nội dung triển khai qua các tiểu mục và hệ thống số liệu cụ thể:
- Đánh giá chung thực trạng mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo:
- Dữ liệu từ Bảng 4.1 (Tổng hợp mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo), Bảng 4.2 (Mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo theo 3 mối quan hệ) và Bảng 4.3 cho thấy: Khía cạnh quan hệ phụ thuộc có điểm trung bình cao nhất, tiếp theo là quan hệ gần gũi, và thấp nhất là quan hệ xung đột. Mặt bằng chung mối quan hệ giáo viên - trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh mang đặc trưng nổi bật là sự lệ thuộc của trẻ vào giáo viên nhiều hơn là sự gần gũi ấm áp hay mâu thuẫn xung đột.
- Phân tích t-test trong Bảng 4.4 (So sánh mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo theo loại hoạt động) chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biểu hiện quan hệ qua 4 loại hoạt động: hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật, hoạt động chơi, và hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân.
- Bảng 4.5 thể hiện mối tương quan giữa ba biểu hiện của mối quan hệ (phụ thuộc, gần gũi và xung đột).
- Thực trạng biểu hiện mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo:
Luận án phân tích chi tiết từng khía cạnh qua hai mặt cảm xúc và hành vi:
- Quan hệ phụ thuộc: Bảng 4.6 trình bày các chỉ số về mặt cảm xúc; Bảng 4.7 trình bày các chỉ số về mặt hành vi.
- Quan hệ gần gũi: Bảng 4.8 trình bày biểu hiện cảm xúc gần gũi; Bảng 4.9 trình bày các hành vi gần gũi giữa cô và trẻ.
- Quan hệ xung đột: Bảng 4.10 phân tích trạng thái cảm xúc xung đột; Bảng 4.11 phân tích các hành vi xung đột cụ thể trong lớp học.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo:
- Bảng 4.12: Tương quan giữa mối quan hệ giáo viên với phụ huynh và mối quan hệ giáo viên với trẻ mẫu giáo, khẳng định mối quan hệ tích cực với cha mẹ trẻ có tương quan thuận chiều với chất lượng quan hệ cô - trẻ.
- Bảng 4.13: Tương quan giữa kỹ năng xã hội của trẻ và mối quan hệ giữa giáo viên với trẻ mẫu giáo.
- Bảng 4.14: Tương quan giữa hành vi của trẻ (bao gồm hành vi chia sẻ và hành vi xâm kích) với mối quan hệ giáo viên - trẻ.
- Bảng 4.15: Mô hình hồi quy tuyến tính dự báo mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ mẫu giáo. Kết quả chỉ ra các yếu tố có khả năng dự báo mạnh nhất gồm: quan hệ tin tưởng, sự cố gắng của trẻ, hành vi chia sẻ và hành vi xâm kích. Các biến này làm tăng mức độ gắn bó chặt chẽ giữa giáo viên và trẻ mẫu giáo.
- Thử nghiệm cải thiện mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo:
- Luận án xây dựng quy trình tác động thử nghiệm bằng biện pháp "Vòng xoay cảm xúc", được tổ chức thành 3 nhóm biện pháp:
- Cấu trúc của các biện pháp cụ thể trong biện pháp thứ nhất.
- Cấu trúc của các biện pháp cụ thể trong biện pháp thứ hai.
- Cấu trúc của các trò chơi đề xuất trong nhóm biện pháp thứ ba.
- Kết quả thử nghiệm được minh chứng qua các biểu đồ:
- Biểu đồ 4.1: Mức độ mâu thuẫn của trẻ mẫu giáo nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thử nghiệm (tính theo tỉ lệ %).
- Biểu đồ 4.2: Mức độ mâu thuẫn giữa giáo viên và trẻ mẫu giáo nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng sau thử nghiệm.
- Biểu đồ 4.3: Mức độ mâu thuẫn với giáo viên của nhóm trẻ mẫu giáo đối chứng trước và sau thử nghiệm.
- Biểu đồ 4.4: Mức độ mâu thuẫn với giáo viên của nhóm trẻ thực nghiệm trước và sau thử nghiệm (tính theo tỉ lệ %).
Kết quả cho thấy mức độ mâu thuẫn của nhóm thực nghiệm sau khi áp dụng biện pháp "Vòng xoay cảm xúc" đã giảm rõ rệt so với trước thử nghiệm và thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo cấu thành từ ba khía cạnh: Quan hệ phụ thuộc; Quan hệ gần gũi; Quan hệ xung đột. Luận án đã xác định hệ thống khái niệm công cụ, phân tích các biểu hiện của mối quan hệ qua hai mặt cảm xúc và hành vi gắn liền với các dạng hoạt động đặc thù ở trường mầm non, đồng thời chỉ ra cơ chế tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến mối quan hệ này.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh thực trạng về mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Xác định điểm trung bình của khía cạnh quan hệ phụ thuộc đạt mức cao nhất, tiếp theo là quan hệ gần gũi, và thấp nhất là quan hệ xung đột. Điều này phản ánh thực tế quan hệ giáo viên - trẻ mẫu giáo tại địa bàn nghiên cứu đặc trưng bởi tính lệ thuộc của trẻ vào giáo viên nhiều hơn là sự gần gũi ấm áp hay sự xung đột mâu thuẫn.
- Phân tích sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chất lượng mối quan hệ giữa các hoạt động trong ngày của trẻ.
- Xác định giá trị dự báo của các yếu tố ảnh hưởng thông qua mô hình hồi quy tuyến tính: quan hệ tin tưởng, sự cố gắng của trẻ, hành vi chia sẻ và hành vi xâm kích đều là các yếu tố có tác động làm tăng sự gắn bó chặt chẽ giữa giáo viên với trẻ mẫu giáo.
- Kiểm chứng hiệu quả thực nghiệm của biện pháp "Vòng xoay cảm xúc" trong việc làm giảm mức độ mâu thuẫn, cải thiện tương tác cảm xúc và hành vi giữa giáo viên và trẻ mẫu giáo.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, luận án xây dựng hệ thống khuyến nghị gồm ba nhóm biện pháp can thiệp cụ thể (biện pháp thứ nhất, biện pháp thứ hai và nhóm trò chơi đề xuất trong biện pháp thứ ba) hướng tới:
- Ban giám hiệu các trường mầm non: Tăng cường quản lý lớp học, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm mầm non.
- Giáo viên mầm non: Điều chỉnh nhận thức và cảm xúc trong tương tác, giảm bớt sự kiểm soát cứng nhắc, tăng cường các hoạt động kết nối gần gũi, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh.
- Gia đình và phụ huynh học sinh: Phối hợp thường xuyên với giáo viên để đồng bộ hóa phương pháp giáo dục hành vi và cảm xúc cho trẻ.
- Các cơ sở đào tạo sư phạm: Cập nhật chương trình đào tạo giáo viên mầm non, đưa nội dung quản lý mối quan hệ giáo viên - trẻ em vào giảng dạy thực hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, căn cứ theo phạm vi xác định trong văn bản, nghiên cứu thực hiện trên địa bàn 10 trường mầm non thuộc 5 quận tại Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô khách thể gồm 210 trẻ mẫu giáo (được đánh giá thông qua 50 giáo viên) và 10 giáo viên phỏng vấn sâu. Do đó, kết quả nghiên cứu chủ yếu phản ánh thực trạng tại các trường thuộc địa bàn khảo sát, chưa bao quát toàn bộ các huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Việc đánh giá biểu hiện của trẻ chủ yếu được thu thập thông qua báo cáo đánh giá của giáo viên (thang đo STRS) và quan sát sư phạm, chưa thể thực hiện bảng hỏi tự báo cáo trực tiếp đối với trẻ mẫu giáo do giới hạn nhận thức lứa tuổi.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra khả năng mở rộng địa bàn khảo sát sang các khu vực nông thôn, ngoại thành hoặc các tỉnh, thành phố khác nhằm so sánh sự khác biệt vùng miền; mở rộng quy mô mẫu giáo viên và trẻ; đồng thời theo dõi dọc sự phát triển của mối quan hệ giáo viên - học sinh khi trẻ chuyển tiếp từ bậc mầm non lên lớp một tiểu học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học phát triển, Tâm lý học sư phạm, Giáo dục học mầm non: Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu quốc tế và trong nước, cơ sở lý luận về cấu trúc ba thành tố của mối quan hệ giáo viên - trẻ em và quy trình sử dụng thang đo STRS của Robert C. Pianta trong bối cảnh Việt Nam.
- Cán bộ quản lý trường mầm non và giáo viên mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh: Các phát hiện thực trạng về mức độ phụ thuộc, gần gũi, xung đột và mô hình hồi quy dự báo giúp giáo viên nhận diện các nguy cơ mâu thuẫn, điều chỉnh hành vi ứng xử trong từng dạng hoạt động (ăn, ngủ, chơi, đồ vật, giao lưu cảm xúc).
- Các khoa Giáo dục mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Tài liệu hữu ích cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng về kỹ năng giao tiếp sư phạm mầm non và tâm lý học lứa tuổi mầm non.
- Cha mẹ trẻ mẫu giáo: Hỗ trợ phụ huynh hiểu rõ tầm quan trọng của việc duy trì mối quan hệ tin tưởng, phối hợp thường xuyên với giáo viên mầm non để nâng cao hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ.
Câu hỏi thường gặp
-
Cấu trúc mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo trong luận án gồm những khía cạnh nào?
Luận án xác định mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo được cấu thành từ ba khía cạnh: Quan hệ phụ thuộc, Quan hệ gần gũi và Quan hệ xung đột. Cả ba khía cạnh này được thể hiện đồng thời qua hai mặt cảm xúc và hành vi trong bốn dạng hoạt động cơ bản tại trường mầm non.
-
Thực trạng ba khía cạnh quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh có đặc điểm gì nổi bật?
Kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy khía cạnh quan hệ phụ thuộc có điểm trung bình ở mức cao nhất, tiếp theo là quan hệ gần gũi, và cuối cùng là quan hệ xung đột. Quan hệ giữa giáo viên và trẻ tại địa bàn nghiên cứu mang đặc trưng bởi sự lệ thuộc của trẻ vào giáo viên nhiều hơn là sự gần gũi ấm áp hay mâu thuẫn xung đột.
-
Những yếu tố nào có khả năng dự báo mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo trong mô hình hồi quy tuyến tính?
Trong mô hình hồi quy tuyến tính (Bảng 4.15), các yếu tố dự báo có ý nghĩa gồm: mối quan hệ tin tưởng, sự cố gắng của trẻ, hành vi chia sẻ và hành vi xâm kích. Các yếu tố này đều có tác động làm tăng sự gắn bó chặt chẽ giữa giáo viên với trẻ mẫu giáo.
-
Biện pháp thử nghiệm nào được luận án áp dụng để cải thiện mối quan hệ giáo viên - trẻ và kết quả đạt được ra sao?
Luận án áp dụng biện pháp thử nghiệm có tên "Vòng xoay cảm xúc", gồm 3 nhóm biện pháp (biện pháp thứ nhất, biện pháp thứ hai và nhóm trò chơi trong biện pháp thứ ba). Kết quả so sánh giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm cho thấy mức độ mâu thuẫn của trẻ với giáo viên ở nhóm thực nghiệm đã giảm rõ rệt sau can thiệp.
-
Quy mô khách thể và địa bàn khảo sát của luận án được phân bổ như thế nào?
Luận án khảo sát tổng số 220 khách thể, gồm 210 trẻ mẫu giáo được đánh giá thông qua 50 giáo viên và 10 giáo viên tham gia phỏng vấn sâu. Địa bàn khảo sát gồm 10 trường mầm non (cả công lập và tư thục) thuộc 5 quận tại Thành phố Hồ Chí Minh: Quận 3, Quận 4, Quận 6, Quận 7 và Quận 8.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Mối quan hệ giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Phương Thảo đã hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Tác phẩm làm rõ cơ sở lý thuyết tâm lý học về mối quan hệ giáo viên - trẻ mầm non qua ba khía cạnh phụ thuộc, gần gũi và xung đột gắn với các hoạt động sư phạm hàng ngày. Kết quả khảo sát thực chứng trên 220 khách thể tại 10 trường mầm non thuộc 5 quận đã cung cấp dữ liệu định lượng về sự chiếm ưu thế của quan hệ phụ thuộc, xác định các biến số dự báo qua mô hình hồi quy, đồng thời chứng minh tính hiệu quả của biện pháp can thiệp "Vòng xoay cảm xúc". Công trình đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo giáo viên, thực hành chăm sóc giáo dục mầm non và hoạch định quản lý trường học tại đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.