Luận văn thạc sĩ y học đặc điểm lâm sàng và mối liên quan chỉ số non hdl c với các thể y học cổ truyền ở bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện đa khoa gò vấp

Luận văn thạc sĩ y học phân tích mối liên quan giữa chỉ số non HDL-C và các thể y học cổ truyền trong rối loạn lipid máu tại bệnh viện Gò Vấp.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chỉ số non HDL C và rối loạn lipid máu

Chỉ số non-HDL-C là một trong những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ tim mạch. Nó được tính bằng cách lấy tổng cholesterol trừ đi cholesterol HDL. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chỉ số này có thể dự đoán nguy cơ bệnh tim mạch tốt hơn so với chỉ số LDL-C đơn thuần. Rối loạn lipid máu (RLLPM) là tình trạng có sự thay đổi bất thường trong các chỉ số lipid trong máu, bao gồm cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-C và HDL-C. Việc hiểu rõ mối liên quan giữa chỉ số non-HDL-C và RLLPM là rất cần thiết để có phương pháp điều trị hiệu quả.

1.1. Khái niệm về chỉ số non HDL C và vai trò của nó

Chỉ số non-HDL-C bao gồm tất cả các loại cholesterol có khả năng gây xơ vữa động mạch. Nó bao gồm LDL-C, VLDL và Lp(a). Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ số này có thể dự đoán nguy cơ tim mạch độc lập với nồng độ triglycerid. Việc theo dõi chỉ số này giúp bác sĩ đánh giá chính xác hơn tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

1.2. Tình hình rối loạn lipid máu tại Việt Nam

Rối loạn lipid máu đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam, với tỷ lệ người mắc bệnh ngày càng cao. Theo thống kê, khoảng 39% người trưởng thành mắc RLLPM. Điều này đặt ra thách thức lớn cho hệ thống y tế trong việc phát hiện và điều trị kịp thời.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu chỉ số non HDL C

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chỉ số non-HDL-C, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc áp dụng nó vào thực tiễn lâm sàng. Một trong những vấn đề chính là thiếu thông tin về mối liên quan giữa chỉ số này và các thể bệnh trong y học cổ truyền. Điều này dẫn đến việc chưa có phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân RLLPM.

2.1. Những khó khăn trong việc chẩn đoán RLLPM

Chẩn đoán RLLPM thường gặp khó khăn do sự đa dạng của các chỉ số lipid. Việc xác định chính xác chỉ số non-HDL-C cần phải có các phương pháp xét nghiệm chính xác và đáng tin cậy.

2.2. Thiếu thông tin về mối liên quan giữa non HDL C và y học cổ truyền

Y học cổ truyền có những cách tiếp cận riêng trong việc điều trị RLLPM. Tuy nhiên, hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa chỉ số non-HDL-C và các thể bệnh trong y học cổ truyền, điều này cần được nghiên cứu thêm.

III. Phương pháp nghiên cứu mối liên quan giữa non HDL C và thể bệnh

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích hồi cứu để đánh giá mối liên quan giữa chỉ số non-HDL-C và các thể bệnh trong y học cổ truyền. Dữ liệu được thu thập từ bệnh nhân RLLPM tại Bệnh viện Đa khoa Gò Vấp. Phương pháp này giúp xác định rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số lipid trong máu.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm bệnh nhân RLLPM tại Bệnh viện Đa khoa Gò Vấp. Các tiêu chí lựa chọn bệnh nhân được xác định rõ ràng để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

3.2. Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua các xét nghiệm lipid máu và các phương pháp chẩn đoán y học cổ truyền. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng các phần mềm thống kê hiện đại để đảm bảo độ tin cậy.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan rõ rệt giữa chỉ số non-HDL-C và các thể bệnh trong y học cổ truyền. Những bệnh nhân có chỉ số non-HDL-C cao thường có các triệu chứng tương ứng với thể bệnh đàm thấp trong y học cổ truyền. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc điều trị RLLPM.

4.1. Mối liên quan giữa chỉ số non HDL C và thể bệnh

Nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân có chỉ số non-HDL-C cao thường có các triệu chứng của thể bệnh đàm thấp. Điều này cho thấy cần có sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền trong điều trị.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc xây dựng các phác đồ điều trị cho bệnh nhân RLLPM, giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên quan giữa chỉ số non-HDL-C và thể bệnh trong y học cổ truyền. Điều này mở ra cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm tìm hiểu sâu hơn về cơ chế bệnh sinh và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân RLLPM.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu chỉ số non HDL C

Chỉ số non-HDL-C không chỉ là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ tim mạch mà còn có thể giúp phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến lipid máu.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn mối liên quan giữa chỉ số non-HDL-C và các thể bệnh trong y học cổ truyền, từ đó phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ y học đặc điểm lâm sàng và mối liên quan chỉ số non hdl c với các thể y học cổ truyền ở bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện đa khoa gò vấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ hàng đầu của tiến trình xơ vữa mạch máu và biến cố mạch vành, đã và đang là vấn đề sức khỏe đƣợc quan tâm bậc nhất trên thế giới với tỷ lệ tử vong cao. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ lệ số ngƣời mắc rối loạn lipid trên thế giới ngày càng tăng cao, năm 2008, tỉ lệ rối loạn lipid máu ở ngƣời trƣởng thành là 39% [56], hàng năm có khoảng 17 triệu ngƣời bị tử vong do bệnh tim mạch. Hầu hết các bệnh lý tim mạch hiện nay là do xơ vữa động mạch [49], [54]. Trong đó, rối loạn lipid máu (RLLPM) là yếu tố quan trọng cho việc hình thành và phát triển của bệnh vữa xơ động mạch (VXĐM), bệnh động mạch vành, động mạch não [8], [20], [35], [40], [55], [57], [58], [59], [60].

Rối loạn chuyển hóa lipid là danh từ dùng để miêu tả một bệnh mạn tính đƣợc đặc trƣng bởi sự thay đổi các chỉ số lipid trong máu. Bilan lipid tiêu chuẩn bao gồm: Cholesterol toàn phần (TC), HDL - Cholesterol (HDL- C), LDL - Cholesterol (LDL - C) và Triglycerid (TG). Mặc dù, mức độ LDL - C là chỉ số chính trong việc sàng lọc rối loạn lipid, nhƣng chỉ dựa vào mục tiêu LDL - C đơn thuần có thể dẫn đến sai lầm ở những ngƣời bệnh có VLDL-C và IDL - C cao kèm các hạt LDL - C nhỏ, đậm đặc, mặc dù giá trị LDL-C ở mức bình thƣờng. Chỉ số cholesterol không phải là lipoprotein tỷ trọng cao hay non-HDL-Cholesterol (non-HDL-C) [4], là sự khác biệt giữa nồng độ TC và nồng độ HDL - C.

Non – HDL - C cung cấp một chỉ số duy nhất cho tất cả cholesterol xơ vữa bao gồm IDL,VLDL, Lp(a) và LDL. Vì vậy, chỉ số non-HDL-C có thể là một yếu tố dự báo mạnh mẽ hơn về nguy cơ tim mạch so với LDL - C. Gần đây, một số nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng Non-HDL-C có giá trị dự đoán hơn so với riêng LDL - C đơn lẻ dự đoán nguy cơ tim mạch. Ngoài ra, non-HDL-C đƣợc cho là một yếu tố dự báo độc lập của các bệnh mạch vành bất kể nồng độ TG trong khi LDL - C bị mất giá trị tiên đoán khi TG > 400 mg/dl.

Cùng với sự phát triển của Y học hiện đại (YHHĐ), Y học cổ truyền (YHCT) đã và đang khẳng định đƣợc mình, đồng thời có những đóng góp không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Theo YHCT, các biểu hiện rối loạn 2 lipid máu, xơ vữa động mạch, thừa cân…đƣợc miêu tả trong một số chứng bệnh do đàm thấp gây nên [21]. Các y văn của y học cổ truyền cũng nêu ra một số phƣơng pháp chẩn đoán cũng nhƣ điều trị các chứng bệnh này [2], [21], [58], [59], [60]. Tuy nhiên, đến nay tại các bệnh viện ở phía nam Việt Nam chƣa có nhiều các nghiên cứu về rối loạn lipid máu cũng nhƣ mối liên quan của chỉ số non-HDL-C ở các ngƣời bệnh rối loạn lipid máu [5]… Câu hỏi đặt ra vậy RLLPM theo YHHĐ biểu hiện lâm sàng tƣơng ứng thế nào đối với YHCT và những thể bệnh YHCT có liên quan gì đến chỉ số non-HDL-C trên bệnh nhân RLLPM hay không ? Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đ iể g ối i u h ố non-HDL-C ới hể y họ ổ u ề ệ h h ối i i u i ệ h viện Đ khoa Gò Vấp” với hai mục tiêu: 1.

theo y học cổ truyền a khoa Gò Vấp ă 2019. a giữa - - ọc cổ truyền ười b nh r i lo n lipid máu t i B nh vi n a khoa Gò Vấp. 3 Chƣơ g 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. h i iệ ề Li i hu ể h Li i 1.

Th h hầ Li i u Li i Lipid chính có mặt trong huyết tƣơng là acid b o, triglyceride, cholesterol và phospholipid. Một số thành phần khác của lipid có khả năng hòa tan trong huyết tƣơng và có mặt với số lƣợng ít hơn rất nhiều nhƣng giữ vai trò sinh lý quan trọng, bao gồm các hormone steroid, các vitamin tan trong mỡ [12]. Theo Trauber, lipid là các thành phần không tan trong nƣớc, chiết rút đƣợc từ tổ chức bởi các dung môi ether, cloroform hay một số dung môi hữu cơ [16]. Theo định nghĩa hóa học, lipid là những este hoặc amid của acid béo với alcol hoặc aminoalcol [15].

Cấu ú h h hầ i i Lipoprotein (LP) là những phân tử hình cầu bao gồm phần l i không phân cực là triglycerid và cholesterol este hóa, phần vỏ bao quanh là phospholipid, cholesterol và protein- apolipoprotein (hay apoprotein). Phần vỏ đảm bảo tính tan của lipoprotein trong huyết tƣơng, vận chuyển các lipid không tan [12]. Cấu trúc lipoprotein (Nguồn: https://www.uk/research/evans-group) 4 1. Ph i i i Bằng phƣơng pháp siêu ly tâm ngƣời ta phân ra các loại LP chính theo tỷ trọng tăng dần là: - Chylomicron (CM): có tỷ trọng 0,96, là những hạt mỡ nhũ tƣơng hóa lơ lửng trong huyết tƣơng và đƣợc tạo thành độc nhất bởi các tế bào màng ruột.

Chylomicron chỉ có mặt trong thời gian ngắn ở huyết tƣơng, sau bữa ăn giàu mỡ và làm cho huyết tƣơng có màu đục, trắng nhƣ sữa. Chylomicron biến mất sau ăn vài giờ và bởi vậy, huyết tƣơng của ngƣời bình thƣờng khi đói phải trong. Chylomicron chứa chủ yếu là triglyceride. Chức năng chính của chylomicron là vận chuyển triglyceride và cholesterol ngoại sinh (từ thức ăn) tới gan [1], [7].

- Li i ọ g ấ hấ : (very low density lipoprotein - VLDL) có tỷ trọng 0,96- 1,006, đƣợc tạo thành ở tế bào gan và là dạng vận chuyển triglycerid nội sinh- đƣợc tổng hợp ở gan- vào hệ tuần hoàn. VLDL chứa nhiều triglycerid, vận chuyển hơn 90 triglycerid nội sinh [5], [14]. - Li i ọ g hấ : (low density lipoprotein - LDL) có tỷ trọng 1,006-1,063, là sản phẩm thoái hóa của VLDL trong máu, LDL chứa nhiều cholesterol. Chức năng chính của LDL là vận chuyển phần lớn cholesterol từ máu tới các mô để sử dụng.

LDL đƣợc gắn vào receptor đặc hiệu ở màng tế bào, rồi đƣợc đua vào trong tế bào. Nồng độ LDL trong huyết tƣơng từ 3,38 đến 4,16 mmol/l [14], [20]. - Li i ọ g u g gi :(intermediate density lipoprotein - IDL) là loại lipoprotein có tỷ trọng giữa VLDL và LDL, còn gọi là VLDL tàn dƣ. IDL có trong máu tuần hoàn với số lƣợng nhỏ nhƣng có thể tích lũy khi có rối loạn bệnh lý về chuyển hóa của lipoprotein [24],[38].

- Li i ọ g : (high density lipoprotein – HDL) có tỷ trọng 1,063- 1,210, đƣợc tổng hợp tại gan, một phần đƣợc tổng hợp ở ruột và một phần do chuyển hóa của VLDL trong máu ngoại vi. HDL chứa nhiều protein, chức năng chính của HDL là vận chuyển ngƣợc các phân tử cholesterol từ các mô ngoại vi về gan. Tại gan, cholesterol đƣợc thoái hóa thành acid mật và đƣợc đào thải qua đƣờng mật. ngƣời, HDL tăng dần theo tuổi.

5 - Lipoprotein (a) hay Lp(a) là lipoprotein không xếp loại với chức năng chƣa biết r , Lp(a) có kích thƣớc và số lƣợng lớn hơn LDL nhƣng có thành phần cấu tạo tƣơng tự LDL ngoại trừ có thêm một phân tử apoprotein (a) trong các phân tử apo B-100. Apo(a) gần giống nhƣ plasminogen. Sự tang của Lp(a) nhƣ là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành [1]. Chu ể h Li i Chuyển hóa của lipid lƣu hành đã đƣợc biết rất r.

Bao gồm 2 con đƣờng: chuyển hóa của lipid ngoại sinh và chuyển hóa lipid nội sinh [24]. Sơ ồ hu ể h ủ T ig i u g i i h ội sinh (Nguồ : Đỗ T u g Qu : “Chẩ iều trị bệ h i h ƣờ g”) * Nhữ g h ơ ủ hu ể h i i : - Triglycerid thức ăn đƣợc vận chuyển trong CM đến các mô. Tại các mô triglycerid có thể đƣợc sử dụng nhƣ nguồn cung cấp năng lƣợng hoặc dự trữ. - Triglycerid nội sinh đƣợc tổng hợp ở gan, rồi đƣợc vận chuyển trong VLDL đến các mô nhƣ nguồn sinh năng lƣợng hoặc dự trữ.

6 - Cholesterol do gan tổng hợp (nội sinh) đƣợc vận chuyển đến các mô trong LDL-C sản phẩm thoái hóa của VLDL. Cholesterol từ thức ăn ( ngoại sinh) đƣợc đƣa đến gan trong CM tàn dƣ. - HDL lấy cholesterol từ tế bào ngoại vi và từ các lipoprotein khác, rồi đƣợc este hóa bởi LCAT. Cholesterol este đƣợc vận chuyển đến các phần tử tàn dƣ và rồi đƣợc đƣa đến gan.

Tại gan, cholesterol đƣợc bài tiết theo mật sau khi chuyển hóa thành acid mật [55], [58]. - Tính chất và chức năng của các lipprotein đƣợc quyết định bởi các protein của chúng- đó là những apoprotein tham gia trong cấu trúc của các lipoprotein, chúng có vai trò vận chuyển lipid trong máu và có thể là ligand đối với receptor của một số lipoprotein hoặc là cofactor của một số enzyme thủy phân lipid. Hội hứ g ối i i u h họ hiệ i 1. Khái niệm rối lo n lipid máu Rối loạn lipid máu (RLLPM) là tình trạng bệnh lý khi có một hoặc nhiều thông số lipid bị rối loạn (tăng cholesterol toàn phần hoặc tăng triglicerid, hoặc tăng LDL-C, hoặc giảm HDL-C…).

RLLPM thƣờng đƣợc phát hiện cùng lúc với mội số bệnh lý tim mạch, nội tiết, chuyển hóa. Đồng thời RLLPM cũng là yếu tố nguy cơ dẫn đến một số bệnh lý khác bệnh lý khác [37], [38], [39], [41], [44], [45], [50]. Theo khuyến cáo Hội tim mạch Quốc gia Việt Nam 2015 về chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid máu [23]: - Tăng Cholesterol toàn phần: ≥ 200 mg/dl (≥ 5,20 mmol/l). - Tăng Triglycerid: ≥ 200mg/dl (≥ 1,70 mmol/l).

- Tăng LDL-C: ≥ 130 mg/dl (3,40 mmol/l). - Giảm HDL-C: 40 mg/dl ( 1,03 mmol/l) [53]. Rối loạn kiểu hỗn hợp: khi tăng cholesterol kết hợp với tăng triglyceride 1. Phân lo i rối lo n lipid máu Có nhiều cách phân loại RLLPM, tuy nhiên mỗi cách phân loại đều có những ƣu điểm, nhƣợc điểm.

Phân loại của Frederickson có tính chất mô tả tình trạng RLLPM, tƣơng đối khó áp dụng trong thực hành lâm sàng. Phân loại của De Gennes và phân loại của Hiệp hội Tim mạch Châu u (EAS) đơn giản hơn và dễ áp 7 dụng trên lâm sàng hơn (tăng TC đơn thuần, tăng triglycerid đơn thuần, tăng cả cholesterol và triglycerid) [53].  P R P e theo Fredrickson/WHO g 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số non-HDL-C và thể bệnh y học cổ truyền ở bệnh nhân rối loạn lipid máu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa chỉ số non-HDL-C và các thể bệnh trong y học cổ truyền, đặc biệt là trong bối cảnh rối loạn lipid máu. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của chỉ số non-HDL-C trong việc đánh giá sức khỏe tim mạch mà còn mở ra những hướng đi mới trong việc áp dụng y học cổ truyền để điều trị các bệnh lý liên quan đến lipid máu.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Đặc điểm lâm sàng và mối liên quan chỉ số non hdl c với các thể chế y học cổ truyền ở bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các đặc điểm lâm sàng liên quan. Ngoài ra, tài liệu Đặc điểm non hdl c trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn đạt mục tiêu điều trị ldl c sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chỉ số non-HDL-C trong bối cảnh bệnh mạch vành. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ đặc điểm lâm sàng và mối liên quan chỉ số non hdl c với các thể chế y học cổ truyền ở bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết và nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm về mối liên quan giữa y học cổ truyền và các chỉ số lipid máu.