Chương 1 LƯỢC SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu. Biểu thể tích là công cụ không thẻ thiếu trong điều tra tài nguyên rừng. Vì vậy, sự phát triển của kĩ thuật lập biểu luôn gắn chặt và là một minh chứng rõ rệt về sự phát triển của khoa học đo cây.
Dưới đây xin tóm tắt một số công trình tiêu biểu liên quan đến chuyên đề nghiên cứu. Trên thể giới Trong việc xây dựng biểu thể tích, các nguyên tắc được đưa ra bởi Cotta từ những năm đầu của thế kỷ 19 vẫn còn nguyên. giá trị (Husch e/ al., 2003), đó là: “ Thể tích cây phụ thuộc vào đường kính, chiều cao, hình dạng. Khi thể tích của cây được xác định đúng thì giá trị thể tích đó được sử dụng cho mọi cây khác có cùng đườnG kính, chiều cao và hình dạng”.
Kê từ thời của Cotta, hàng trăm biểu thể tích đã được xây đựng bằng nhiều phương pháp khác nhau và được đưa vào sử dụng. Tuy nhiên kể từ giữa thế kỷ 20, xuất hiện xu hướng giảm thiểu số biểu thể tích bằng việc gộp lại và xây dựng các biểu có khả năng áp dụng cho nhiều loài, ở những nơi có cùng điều kiện áp dụng biểu. Tuy đã có nhiều biểu thể tích được xây dựng nhưng các nhà lâm nghiệp vẫn đang tìm kiếm những phương pháp đơn giản, khách quan và chính xác nhất. Trong khi cây rừng là thể hình học có tính biến đổi cao nên không một biểu thê ;tíc ,ian, hoặc một tập hợp các biểu nào có thể đáp ứng được tất cả các điệu kiện đổàhoặc .vi một phương ae vo biểu thể tích nào có thể phương pháp wong: ong + hop ly (harmonized-curve method) (Chapman and Meyer, 1949) không còn được sử dụng vì nó cần số lượng số liệu đầu vào rất lớn để xây dựng mối quan hệ giữa các biến và đường cong hợp lý.
Hoặc phương pháp biểu đồ liên kết (Alignment-chat method) và các phương pháp chủ quan khác nhìn chung đã bị loại bỏ. Ngày nay, các mối quan tâm thường tập trung vào việc sử dụng các hàm toán học để xây dựng các biểu thể tích (Husch et al. Các mô hình toán học vẻ thể tích thân cây được xem xét như là một hàm của các biến độc lập: đường kính, chiều cao và hình số (Đồng Sỹ Hiền, 1974; Husch et al., 2003; Akindele va LeMay, 2006 ). Nó được viết dưới dạng: V = f(D, H, F) Trong đó: V — Thể tích D = Đường kính ngang ngực H~ Chiều cao vút ngọn; chiều cao gỗ thương phẩm hoặc chiều cao đến một vị trí bất kỳ trên thân cây.
F - Chỉ số hình dạng Người ta chia các hầm thể tích thành các nhóm: + Nhóm các hàm thể tích địa phương: sử dụng một biến độc lập, nhìn chung là đường kính nẽang ngực hoặc đôi khi sử dụng dưới dạng đổi biến để xây dựng biểu thể tích. Dạng hàm đơn giản nhất của một biểu thể tích địa phương (ik Z <V=b,D* (1.1) Trong Ð là thể tích và đường kính ngang ngực ; còn bi là các hăng sô. ee Các hàm thể tích địa phương khác đã được sử dụng chủ yếu ở Châu Âu, theo báo cáo của Prodan (1965) và Prodan et al.4) Trong mô hình cuối cùng thì g là tiết điện ngang. + Nhóm các hàm thể tích chưng: những hàm thể tích này ước lượng cả đường kính và chiều cao, trong một số trường hợp,:thêm cả nhân tố hình dạng.
Behre (1935) và Smith et al. (1961) đã kết luận rằng việc xác định yếu. tố hình dạng không phải là một vấn đề đơn giản sỏ với đường kính và chiều cao. Clutter et al.
(1983) đã đưa:ra một số lý đo của việc chỉ nên sử dụng đường kính ngang ngực và chiều cao để xây dựng biểu thể tích, như sau: (1)- Việc đo các loại đường kính trên thân cây đứng là tốn thời gian và kinh phí. (2)- Biến động về hình đạng thân cây tác động đến thể tích cây là nhỏ hơn nhiều so với biến động về chiều cao và đường kính. (3)- Với một số loài hình dạng là tương đối ôn định. (4)- Với một số loài khác, hình dạng thường có mối tương quan với MyNoy ột số ham thé tích chung phô biến được áp dụng: 3 7.
wes : Kiểu nhân tố hĩnh dạng không đôi:Re ƒ = b,ДH (1.5) Kiểu kết hợp biến: V=b,+),D°H (1.7) Dạng đổi biến logarit: V = logb, + b, log D+ b, logH (1.8) 2 D? Đổi biến của Honer: Veb+bHT (1.9) Các mô hình trong đó nhân tổ hình dạng cũng là một biến như: V =b,+b,D’HF (1.11) Các hệ số b; ở trên thu được bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy. Ngoài việc tính toán thể tích bằng phương pháp tương quan, thông qua việc sử dụng các hàm quan hệ giữa biến phụ thuộc là thẻ tích với các biến độc lập như đường kính, chiều cao, hình số thì thể tích cây có thé tính được thông equa phương pháp đường sinh. Theo Đồng Sĩ Hiền (1974), Menđeleev D.14) cà Lg Sp Đức đề nghị biểu thị mối liên hệ giữa đường kính Õ mũ (Đồng Sĩ Hiền — 1974): D=a. (1964) đã xây dựng phương pháp xác định thê tích thân cây và lập biểu thể tích trên cơ sở phương trình ý2 = A.
Thân cây gồm nhiều thể khác nhau, thông số hình dạng m biến động từ gốc đến ngọn. Ở mỗi đoạn thông số m nằm trong một phạm vi nào đó. Wauthoz xác định thông số m của một thê hình học trừu tượng giản đơn có thể tích bằng thể tích phức tạp là thân cây. Nếu trị số m của thể đơn giản ấy xác định được thì thể tích của thân cây được tính bằng tích phân của phương trình trên (Đồng Sĩ Hiền, 1974) Ax" dx= Trong đó gọ là tiét dién ngang 6.
Trong thực tiễn thì gọ được thay thế bằng g¡¿— tiết diện ngang ở Xị trí 1.3)" -_ Cũng theo Đồng Sĩ Hiền (1974) [6], Ozumi (Prodan, 1965) [19] ở Nhật đã dùng phư Hà parabol bậc 3, bậc 4 đề biểu thị quan hệ giữa hệ số thon tự nhiên Với chia’ tương ( đối theo từng cấp hệ số thonở giữa thân: Sẽ / S gat bx + bax? + byx (1.18) Tác gia“Dong Si Hién đã nhận xét về các phương pháp trên như sau : &é + Ý kiến của Muller G. có điểm độc đáo là đã vạch ra được sự thống nhất giữa phương trình đường sinh với đường cong chiều cao. Tuy nhiên những phương pháp này dựa trên một giả thuyết không phù hợp với thực tế. + Phương pháp của Wauthoz đơn giản nhưng trong đó.cờñ tồn tại nhiều vấn đề thực tiễn và lý luận chưa được giải quyết thỏa đáng.
+ Phương pháp của Ozumi trong sách của Prodân thì Ozumi không nói nõ đã lấy những số liệu nào trên thân cây đề lập phương trình. Ở Việt Nam Biểu thé tích được lập đầu tiên ở Việt Nam có tên gọi là “Biểu thể tích tạm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”. Biểu này do'Kraeuter cùng các chuyên gia CHDC Đức “cñ'' lập năm 1958 và được sử dụng chính thức trong điều tra tài nguyên rừng miền Bắc cho đến khoảng 1970. Đây là loại biểu thể tích (thực chất là hình cao) theo cấp chiều cao (7 cấp) lập chung cho các loài cây rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam.
Biểu được xây dựng trên cơ sở lí luận là: coi hình dạng thân các loài cây rừng là tương tự nhau nên có thể lập biểu chung cho các loài. Đồng thời thừa nhận tương quan h/d giữa-các loài hoặc các lâm phần thuần nhất với nhau nên có thê từ một đường cong chiều cao lập chung cho các loài phân hóa thành một hệ thống các đường cong cùng xu hướng tức là các cấp chiều cao. Tác giả cũng khẳng định fy, va hé số banh q? quan hệ chặt chế với dị; theo dạng tương quan đường thẳng bậc một và không phụ thuộc vào loài hoặc cấp chiều cao, phương trình có dạng: fo, = 0,5234 — 0,000175 “a, Gq = 0,9342 + 0,0049 .d Tw abc thức lập biểu là: v= =4 ft (1.18) H Lan | tí số h, fo, va z? tương ứng với từng cỡ d sẽ được v Nó y cá và liệt kê fam 11964 chuyên gia Trung Quốc giúp lập biểu thể tích theo cấp chiều cao ing lưu vực sông Hiếu —- Nghệ An, sau đó được Viện Điều tra qui hoạch rừng áp dụng để điều chỉnh hoặc lập biểu mới cho các vùng khác và còn được sử dụng rộng rãi cho tới hiện nay (Số tay ĐTQH rừng [1995]). Phương pháp lập biểu về cơ bản như sau: Coi hình dạng các loài cây rừng thuần nhất nên có thể lập một biểu chung cho các loài.
Thừa nhận đường cong chiều cao các loài hoặc các lâm phần khác nhau đều chung một phương hướng nên có thể vẽ một đường cong chung, từ đó phân hóa lên trên hoặc xuống dưới thành 6 đường cong theo nguyên tắc + 1Sh, + 2Sh, + 3Sh và tạo ra 7 đường cong chiều cao trung bình cho 7 cấp chiều eao. Tập hợp tài liệu v và d theo từng cấp H vẽ biểu đồ đường thang quan hé logv= á + b.logd trên giấy logarit 2 chiều rồi tính các tham số a, b bằng biêu đồ đó: Cuối cùng tính v ứng với cỡ d cho từng cấp H theo phương trình tương ứng đã có rồi liệt kê thành biểu. Thể tích thân cây không vỏ trong biểu đữợc chuyển từ thể tích thân cây cả vỏ thông qua tỉ suất vỏ cây.Hai loại biểu nêu trên đều mắc nhược điểm giống nhau là: Kết luận hình dạng các loài cây không sai khác để từ đó lập một biểu chung cho mọi loài cây là chưa đủcơ sở khoa học cần thiết. Nhược điểm thứ 2 là kết luận tương quan h/d.gïữa các loài và các lâm phần khác nhau là thuần nhất với nhau cũng chưa đủ căn cứ khách quan.
Như Đồng Sĩ Hiền [1974] và nhiều tác giả khác đã khẳng định kết luận ngược lại với cây rừng tự nhiên Việt Nam và kiến nghị không nên lập loại biểu thể tích theo cấp chiều cao cho đối tượng này. Rút kinh nghiệm các tác giả đi trước, Đồng Sĩ Hiền [1970], [1974] đã nghiên cứu sâu sắe-cơ sở lí luận lập biểu thể tích thân cây đứng cho rừng tự nhiên Việt Nam và dựa vào đó Nguyễn Ngọc Lung [1971] đã lập ra “biểu thể phương trình Ou nhe từng tổ hình dạng từ dãy số thon Hohenald bình quân của tổ hình ads đó. Từ đó tích phân phương trình đường sinh để thu được ƒ„ cho từng tổ rồi tính thể tích theo công thức: vat dish nto, voi „ 4„ cũng tính từ phương trình đường sinh tương ứng cho từng cỡ chiều cao khác nhau rồi liệt kê thành biểu.