Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan nồng độ dioxin với một số hormone trong máu ở người làm việc tại các sân bay quân sự biên hòa đà nẵng và phù cát

Luận án tiến sĩ khám phá mối liên hệ giữa nồng độ dioxin và hormone trong máu người làm việc tại sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Dược

Chuyên ngành

Y Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2023

146
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. TỔNG QUAN VỀ DIOXIN

2.1.1. Cấu trúc hóa học của dioxin

2.1.2. Nguồn gốc, sự tồn lưu và lan tỏa của dioxin

2.1.3. Cơ chế tác động của dioxin

2.1.3.1. Thụ thể Aryl hydrocarbon (AhR)
2.1.3.2. Cơ chế tác động của dioxin thông qua AhR

2.1.4. Xác định phơi nhiễm dioxin

2.1.5. Phương pháp định lượng dioxin

2.1.6. Thực trạng ô nhiễm dioxin tại các khu vực của sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát

2.1.6.1. Sân bay Biên Hòa
2.1.6.1.1. Khu vực Z1 và vùng lân cận
2.1.6.1.2. Khu vực Nam sân bay
2.1.6.1.3. Khu vực Pacer Ivy
2.1.6.1.4. Vành đai phía Bắc và Đông sân bay
2.1.6.2. Sân bay Đà Nẵng

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa nồng độ dioxin và hormone trong máu tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát. Dioxin, một chất độc hóa học được tạo ra trong quá trình sản xuất chất diệt cỏ, đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe con người. Các sân bay quân sự này từng là nơi lưu trữ và sử dụng chất diệt cỏ chứa dioxin trong Chiến dịch Ranch Hand. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định nồng độ dioxin và các hormone nội tiết trong máu của người làm việc tại các khu vực này, đồng thời phân tích mối liên quan giữa chúng.

1.1. Bối cảnh lịch sử

Từ năm 1961 đến 1972, Quân đội Hoa Kỳ đã phun rải khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ, chủ yếu là chất da cam, tại Miền Nam Việt Nam. Quá trình sản xuất chất diệt cỏ này đã tạo ra dioxin, một chất độc hóa học cực kỳ nguy hiểm. Các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát là những điểm nóng về ô nhiễm dioxin do từng là nơi lưu trữ và sử dụng chất diệt cỏ. Hậu quả của việc phơi nhiễm dioxin đối với sức khỏe con người đã được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu dịch tễ học.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định nồng độ dioxin và các hormone nội tiết trong máu của người làm việc tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát. Đồng thời, nghiên cứu phân tích mối liên quan giữa nồng độ dioxin và sự biến đổi của các hormone trong máu. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ tác hại của dioxin đối với hệ nội tiết, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị cho những người bị phơi nhiễm.

II. Tổng quan về dioxin

Dioxin là một nhóm các hợp chất hóa học độc hại, bao gồm 75 đồng loại của polychlorinated dibenzo-p-dioxin (PCDD) và 135 đồng loại của polychlorinated dibenzo furan (PCDF). Các hợp chất này có cấu trúc hóa học phẳng và có thể chứa tới 8 nguyên tử clo. Dioxin được xếp vào nhóm các hóa chất gây rối loạn nội tiết (EDCs), có khả năng can thiệp vào cơ chế hoạt động của các hormone trong cơ thể. Các nghiên cứu trên động vật và người đều chỉ ra rằng dioxin gây rối loạn nội tiết, đặc biệt là các trục nội tiết như dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp và dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục.

2.1. Cấu trúc và độc tính của dioxin

Dioxin có cấu trúc hóa học phẳng, với hai vòng benzene được nối bởi các cầu nối oxy. Độc tính của dioxin phụ thuộc vào vị trí của các nguyên tử clo trên vòng benzene. Các đồng loại chứa clo ở vị trí 2,3,7,8 có độc tính cao nhất. 2,3,7,8-TetraCDD là đồng loại độc nhất, được quy ước hệ số độc tương đương (TEF) là 1. Các đồng loại khác có hệ số độc thấp hơn, tùy thuộc vào mức độ độc của chúng so với 2,3,7,8-TetraCDD.

2.2. Cơ chế tác động của dioxin

Dioxin tác động thông qua thụ thể aryl hydrocarbon (AhR). Khi dioxin liên kết với AhR, phức hợp này di chuyển vào nhân tế bào và kích hoạt quá trình phiên mã của các gen đích. Điều này dẫn đến sự rối loạn trong hoạt động của các hormone, gây ra các tác động tiêu cực đến sức khỏe. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dioxin có thể gây rối loạn nội tiết, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và gây ra các bệnh lý nghiêm trọng.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GCMS) để định lượng nồng độ dioxin trong máu. Đây là phương pháp tiêu chuẩn vàng, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho phép đo lường chính xác nồng độ của từng đồng loại dioxin. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng các kỹ thuật y tế để đo lường nồng độ hormone trong máu, bao gồm các hormone tuyến thượng thận, tuyến giáp và tuyến sinh dục. Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định mối liên quan giữa nồng độ dioxin và sự biến đổi của các hormone trong máu.

3.1. Kỹ thuật định lượng dioxin

Phương pháp GCMS được sử dụng để định lượng nồng độ dioxin trong máu. Quá trình phân tích bao gồm các bước tách chiết, làm sạch mẫu và phân tích sắc ký. Mẫu máu được bổ sung chất nội chuẩn và chiết theo quy trình đặc trưng. Kết quả phân tích được biểu thị dưới dạng tổng đương lượng độc (TEQ), là tổng nồng độ của các đồng loại dioxin nhân với hệ số độc tương đương của chúng.

3.2. Đo lường hormone trong máu

Các hormone trong máu được đo lường bằng các kỹ thuật y tế tiêu chuẩn, bao gồm xét nghiệm miễn dịch và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Các hormone được quan tâm bao gồm cortisol, thyroxine, testosterone và estrogen. Kết quả đo lường sẽ được so sánh với nhóm chứng để xác định sự biến đổi nồng độ hormone do ảnh hưởng của dioxin.

IV. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu đã xác định được nồng độ dioxin trong máu của người làm việc tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát ở mức cao hơn so với nhóm chứng. Đồng thời, sự biến đổi nồng độ hormone trong máu cũng được ghi nhận, đặc biệt là các hormone tuyến thượng thận và tuyến giáp. Kết quả cho thấy có mối liên quan phức tạp giữa nồng độ dioxin và sự rối loạn nội tiết, với các mối tương quan không tuyến tính, thường có dạng hình chuông hoặc hình chữ U.

4.1. Phân tích mối liên quan

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nồng độ dioxin cao có liên quan đến sự biến đổi nồng độ hormone trong máu. Các hormone tuyến thượng thận và tuyến giáp là những mục tiêu chính của dioxin. Sự rối loạn nội tiết này có thể dẫn đến các bệnh lý nghiêm trọng, bao gồm rối loạn chuyển hóa, suy giảm miễn dịch và các vấn đề về sinh sản.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị cho những người bị phơi nhiễm dioxin. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về tác hại của dioxin đối với hệ nội tiết, hỗ trợ các biện pháp can thiệp y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức về ô nhiễm dioxin và các biện pháp phòng ngừa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan nồng độ dioxin với một số hormone trong máu ở người làm việc tại các sân bay quân sự biên hòa đà nẵng và phù cát

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Từ năm 1961 đến năm 1972, Quân đội Hoa Kỳ đã tiến hành Chiến dịch Ranch Hand, phun rải khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ, trong đó chủ yếu là chất da cam, một hỗn hợp của 2-4D (2,4-dichlorophenoxyacetic acid) và 2,4,5-T (trichlorophenoxyacetic acid). Trong quá trình sản xuất chất độc hóa học với thành phần là 2,4-D và 2,4,5-T sinh một sản phẩm phụ ngoài mong muốn là dioxin. Các nhà khoa học trên Thế giới đều có chung nhận xét: Dioxin là chất độc nhất do con người tìm ra và tạo ra. Chính dioxin có trong các chất diệt cỏ được lưu giữ tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát và sử dụng ở Miền Nam Việt Nam, đã để lại hậu quả nặng nề đối với sức khỏe con người [1], [2], [3], [4].

Đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam, Hoa Kỳ, Nhật Bản…về tác hại của dioxin đối với con người. Những nghiên cứu dịch tễ học đã được thực hiện trên những người phơi nhiễm dioxin và chỉ ra những bệnh/tật liên quan đến dioxin. Tuy nhiên, cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy mối liên quan chặt chẽ có tính đặc hiệu giữa dioxin và bệnh/tật, giữa dioxin với những biến đổi về gen, miễn dịch, hormone… Dioxin và các chất giống dioxin (dioxin-like compounds, DLCs) được xếp vào nhóm các hóa chất gây rối loạn nội tiết (EDCs). Hiệp Hội nội tiết và Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa EDC là “một hóa chất/hỗn hợp các chất hóa học ngoại sinh, can thiệp vào bất kỳ khâu nào trong cơ chế hoạt động của các hormone”.

EDCs được quan tâm và ngày càng có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chúng đến hệ thống nội tiết (đặc biệt là các trục nội tiết: trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp; trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục; trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận). Mục tiêu tác động không chỉ giới hạn ở một tuyến/trục nội tiết. Những nghiên cứu trên động vật đến các quần thể người đều nhận định dioxin là chất gây rối loạn nội 2 tiết điển hình, trong đó trục nội tiết dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp và tuyến sinh dục là các mục tiêu nổi bật [5], [6], [7], [8], [9]. Đã có một số nghiên cứu về biến đổi nồng độ hormone trong cơ thể do các nhà khoa học Nhật Bản và cộng sự thực hiện ở những người phụ nữ và con của họ tại những vùng trước đây chịu ảnh hưởng của chất diệt cỏ có dioxin ở Miền Nam Việt Nam; so sánh với nhóm chứng ở các vùng phía Bắc.

Các nghiên cứu bước đầu cho thấy có một số liên quan giữa nồng độ dioxin với nồng độ các hormone tuyến thượng thận. Mối tương quan này không tuyến tính mà thường có dạng hình chuông hoặc hình chữ U, điều đó cho thấy tác động của dioxin gây ra những rối loạn/biến đổi nồng độ các homrone trong cơ thể một cách phức tạp trong mạng lưới tác động qua lại giữa các hormone và không đơn thuần theo một hướng duy nhất là ức chế hay tăng cường [10], [11]. Những kết quả nghiên cứu trên đã đặt ra các câu hỏi về sự liên quan giữa dioxin với hormone của các trục nội tiết khác nhau; sự liên quan giữa biến đổi hormone với các bệnh lý ở những người phơi nhiễm dioxin, đặc biệt là các đối tượng vẫn đang tiếp tục có những nguy cơ phơi nhiễm dioxin. Vì vậy, nghiên cứu làm rõ tác hại của dioxin đối với biến đổi hormone có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh/tật và điều trị cho những người bị phơi nhiễm dioxin.

Từ thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối liên quan nồng độ dioxin với một số hormone trong máu ở người làm việc tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát” với các mục tiêu: 1. Xác định nồng độ dioxin và một số hormone nội tiết trong máu ở người làm việc tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát. Phân tích mối liên quan nồng độ dioxin với một số hormone nội tiết trong máu của người làm việc tại các sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

TỔNG QUAN VỀ DIOXIN 1. Cấu trúc hóa học của dioxin Thuật ngữ "dioxin" được sử dụng và đề cập đến 75 chất đồng loại (congeners) của polychlorinated dibenzo-p-dioxin (PCDD) và 135 chất đồng loại của polychlorinated dibenzo furan (PCDF). Cấu trúc cơ bản của PCDD và PCDF là hai vòng benzene được nối với nhau bởi 2 cầu nối Oxy (đối với PCDD) hoặc 1 cầu nối Oxy (đối với PCDF). Đây là hai nhóm este ba vòng, phẳng, có thể có 8 nguyên tử Clo (Cl) gắn vào nguyên tử carbon ở vị trí từ 1 - 4 và từ 6 - 9 (Hình 1.

Chỉ những đồng loại chứa các nguyên tử Cl ở đồng thời các vị trí 2,3,7,8 mới có độc tính đáng kể. Nhóm PCDD có 7 đồng loại và nhóm PCDF có 10 đồng loại có đặc điểm này [1], [12], [13], [14]. Cấu trúc chung của dioxin và các hợp chất tương tự dioxin * Nguồn: Theo Marinković N. Sự xâm nhập và tích lũy sinh học của dioxin Hình 1.

Con đường phơi nhiễm dioxin từ môi trường vào cơ thể người * Nguồn: Theo Lê Kế Sơn và cs. Sự xâm nhập qua đường hô hấp và ngấm qua da chỉ chiếm tỷ lệ thấp (Hình 1. Các nguồn thực phẩm, đặc biệt là nhóm thịt, cá, trứng và sữa đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ dioxin vào cơ thể người [2], [16], [17]. Dioxin có đặc tính không tan trong nước, tan trong mỡ, khả năng tích tụ lẫn tích lũy sinh học nên sự hấp thụ qua đường tiêu hóa phụ thuộc rất nhiều vào loại thực phẩm ô nhiễm.

Tích lũy sinh học (bioaccumulation) là tổng hợp của hai quá trình tích tụ sinh học (bioconcentration) và phóng đại sinh học (biomagnification). Tích lũy sinh học đối với các hợp chất hóa học bền vững, khó phân hủy và độc hại như dioxin là rất điển hình đối với cả chuỗi thức ăn tự nhiên và chuỗi thức ăn chăn nuôi [18], [19], [20]. Nguồn gốc, sự tồn lưu và lan tỏa của dioxin Có hai loại khu vực nhiễm dioxin trong môi trường Miền Nam Việt Nam. Thứ nhất là các khu vực bị phun rải trực tiếp ở Miền Nam Việt Nam, phía dưới vĩ tuyến 17 (chiếm 15% diện tích toàn Miền Nam).

Thứ hai là một số sân bay quân sự trước đây của Quân đội Hoa Kỳ, là những nơi tàng trữ hóa 5 chất để nạp lên máy bay đi phun rải, tẩy rửa sau phun rải. Điều kiện khí hậu và địa lý ở Miền Nam Việt Nam có tác động đáng kể đến độ tồn lưu, sự suy giảm nồng độ và sự di chuyển của dioxin trong môi trường. Đến nay, hàm lượng dioxin trong đất, trầm tích, máu, sữa mẹ, mô mỡ và thực phẩm ở các vùng bị phun rải đã được nghiên cứu và đều ở mức chấp nhận được, dưới các ngưỡng nồng độ cho phép. Tuy nhiên, ở các các điểm từng là kho chứa, nạp, rửa mà tập trung là các khu vực bị ô nhiễm nặng trong sân bay Biên Hòa (SBBH), sân bay Đà Nẵng (SBĐN), sân bay Phù Cát (SBPC), hàm lượng dioxin vẫn còn rất cao [21].

Từ số liệu của Bộ Quốc phòng (BQP) Hoa Kỳ cung cấp, điều tra và nghiên cứu của Ủy ban 10/80 (Việt Nam), Công ty tư vấn Hatfield (Canada) đã đưa đến kết luận SBBH, SBĐN, SBPC (các cơ sở chính của Chiến dịch Ranch Hand) là các điểm nóng trọng điểm về ô nhiễm dioxin [2], [21], [22], [23], [24]. Tất cả các nghiên cứu về dioxin ở Miền Nam Việt Nam ở các vùng bị phun rải cũng như ở các điểm nóng đều khẳng định nguồn gốc của dioxin là kết quả của cuộc chiến tranh hóa học để lại, quân đội Mỹ đã sử dụng một khối lượng rất lớn các chất diệt cỏ chứa dioxin, chủ yếu là chất da cam. Kết luận này được minh chứng bằng tỷ số nồng độ 2,3,7,8-TCDD/TEQ (T%) rất cao ở hầu hết các đối tượng nghiên cứu [2], [21]. Do đặc tính lý hóa của dioxin là tan trong dầu nên các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật sẽ có hàm lượng dioxin cao hơn và là nguồn phơi nhiễm quan trọng hơn so với thực phẩm có nguồn gốc thực vật [20], [25].

Nghiên cứu mẫu thịt xung quanh SBBH, chợ và hồ Biên Hùng (2010) thấy hàm lượng 2,3,7,8-TetraCDD trong thịt vịt 276 - 331 pg/g trọng lượng ướt, trong cá lóc là 66 pg/g, trong thịt gà là 0,35 - 48 pg/g, trong thịt lợn là 0,6 - 1,1 pg/g và trong thịt bò là 0,11 - 0,21 pg/g [26]. 6 Khi dioxin được hấp thụ vào trong cơ thể người, hệ tuần hoàn giúp cho việc phân bố dioxin tới các cơ quan, dioxin chỉ tồn tại trong máu với khoảng thời gian ngắn, sau đó tích tụ tại các mô mỡ và gan [27]. Lượng tồn lưu trong cơ thể có thể tính từ mức PCDDs/PCDFs trong máu. Nồng độ của 2,3,7,8- TCDD trong lipid huyết thanh bằng với nồng độ 2,3,7,8-TCDD trong lipid của cơ thể [28].

Trong cơ thể, các chất dibenzo-p-dioxin chlo hóa (CDD) được tìm thấy ở tất cả các mô nhưng tập trung nhiều nhất ở gan và mô mỡ. Mô mỡ và gan có khả năng tích lũy CDD trong nhiều năm trước khi đào thải chúng khỏi cơ thể. 2,3,7,8-TCDD và các dioxin chứa nhiều clo (chẳng hạn như OCDD) đã được phát hiện có trong mô mỡ với nồng độ cao hơn so với các CDD khác [17]. đã đo độc tố cùng loại PCDDs/PCDFs trong các mô khác nhau ở những trường hợp khám nghiệm tử thi cho thấy gan và các mô mỡ có nồng độ dioxin cao nhất [29].

Cơ chế tác động của dioxin * Thụ thể Aryl hydrocarbon (AhR) Thụ thể Ah của dioxin được hoạt hóa bởi các phối tử (ligand). Phối tử điển hình của AhR là 2,3,7,8-TetraCDD. AhR là một thành viên của họ protein thuộc nhân tố điều hòa phiên mã (transcription factor), có cấu trúc basic helix-loop-helix/Per-Arnt-Sim2. AhR có các vùng cấu trúc đảm nhiệm các chức năng: liên kết với phối tử, liên kết với DNA của gen đích, liên kết các protein thành phần và chức năng hoạt hóa phiên mã [30], [31], [32].

Từ khi được phát hiện vào những năm 1980, AhR là một chủ đề được rất nhiều nhà khoa học độc chất học tập trung vào nghiên cứu tìm hiểu cơ chế phân tử của độc tính gây ra bởi phối tử điển hình của AhR [31]. 7 * Cơ chế tác động của dioxin thông qua AhR Trong điều kiện không có phối tử, AhR trong tế bào chất, liên kết với các protein thành phần như: AIP (aryl hydrocarbon receptor interacting protein), p23 và 2 phân tử HSP90 (90-kDa heat shock protein).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu mối liên hệ giữa nồng độ dioxin và hormone trong máu tại sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích tác động của dioxin - một chất độc hại tồn lưu từ chiến tranh - lên hệ thống hormone trong cơ thể con người. Nghiên cứu này được thực hiện tại các khu vực sân bay quân sự Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát, nơi có lịch sử tiếp xúc với chất độc này. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa dioxin và sức khỏe con người mà còn góp phần vào việc đề xuất các biện pháp can thiệp y tế và môi trường hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề môi trường và sức khỏe liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường ứng dụng hệ thống phát hiện và định lượng tự động với cơ sở dữ liệu gcms nhằm phân tích đồng thời các hợp chất sterols và phthalate trong bụi không khí tại hà nội, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về ô nhiễm không khí và các hợp chất độc hại. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu xác định một số kim loại trong nguồn nước sinh hoạt ở khu vực xã thạch sơn lâm thao phú thọ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của kim loại nặng đối với nguồn nước sinh hoạt. Cuối cùng, Luận văn đánh giá chất lượng nước sông nhuệ đáy đoạn chảy qua địa phận thành phố hà nội năm 2016 2017 là một tài liệu hữu ích để khám phá thêm về chất lượng nước và các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống.