CHƯƠNG I: _ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ NIÊM TIN TÔN GIÁO VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA THANH NIÊN CÔNG GIÁO. Tổng quan tình hình nghiên cứu về niềm tin tôn giáo (NTTG) và cảm nhận. hạnh phúc (CNHP) LA. Tổng quan tình hình nghiên cứu về NTTG 1.
Một số nghiên cứu nước ngoài 'NTTG luôn là một đề tài thụ hút được sự quan tâm từ các nhà khoa học. Vì thể, những nghiên cứu trên thể giới về NTTG đã xuất hiện một cách rất đa dạng, thể hiện qua nhiều. hướng nghiên cứu và góc đội cận khác nhau. Có thể kể đến một số cách tiế cân nghiên cứu sau ® Nghiên cứu về nguôn gốc của tôn giáo Kh tim kiếm về nguồn gốc của tôn giáo, các nhà khoa học đãthực hiện rất nhiều công trình nhằm trả lời cho câu hỏi “Tôn giáo đến từ đâu?” Theo học thuyết vạn vật hữu linh vớ đại diệ tiêu biểu là Edward Burnet Tylor cho răng không chỉ cỏ con người nhưng vạn vật tổn tại rên thể iới có linh hồn.
Chính trên sự nhận thức này về thể giới đã trở thành cơ sở cho sự sing bai nhiễu khía cạnh khác cũa Ê giới và sự ra đời của các tôn giáo đa thằn/độc thần (Hopfe & Woodward, 2009), nối học thuyết này, Giám mục R. H Codrington đã đưa ra luận điểm của mình về khởi nguồn của tôn giáo thông qua cuốn sách *Người Melanesia”, Ong cho ring tôn giáo của son người xuất phát sự nhận thức vỀ quyền nãng của thể giới siêu hình được gọi là mana (Codrington, 1891, được trích dẫn trong Vũ Dũng, 1998), Một luận điểm khác ea Muller theo lý thuyết sàng bái thiên thì cho rằng nguồn gốc của tôn giáo là từ sự ý thức về sức mạnhcủa thiên nhiên. Con ngưi nhận ra súc mạnh của thiên nhiên và nhân cách hóa chúng trở thành những thin thoại và sùng bái chúng. Wilhelm Schmidt theo thuyết độc thẫn giáo tì cho rằng, tôn giáo có khởi nguồn tử một vịthằn cao hơn tắ cả các thần khác gọi là Thượng Để, Thượng để là Đẳng sáng tạo thể giới và ban luật cho con người, Sau khi tạo đựng thể giới, Thượng ĐỀ đã rời đi và sẽ quay trổ lại phần xét con người đựa trên đạo đức của th giới, Không đi theo những quan điểm nghiên cứu trên, Frazer rong cuỗn sách "Cảnh cây vàng” đã nêu quan điểm rằng con người sé di qua ba gia đoạn phát triển liên quan đến th giới thin Tinh à ma thuật tôn giáo = khon học cũng chính lả quá trình con người chuyển từ điều khiển sang nhờ cậy vào thiên nhiên và sau cũng là dựa vào khoa học đề hiểu biết thiên nhiên (Schmidt, 1912; Frazer, 1922, được trích dẫn trong Vũ Dũng, 1998) Trong cuỗn sách Văn hóa học của VM Rodin (2000), ông cho rằng nguồn gốc của NTTG như là một yếu tổ tồn tại trong ý thức con người.
Họ cho rằng các vỉ thần tạo dựng nên đồi sống của họ và con người cần phải đp lại bằng sự phục tùng và đãng lên mat phn tải sản cho đền thở. Trong quan niệm của họ sự thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ đều được quyết định bởi cdc vj thin dy (VM. XMireea Eliade khi nghiên cứu về nguồn gốc các ôn giáo trên phương diện hiện tượng học, ông cho ring tôn giáo là một điều đặc biệt, tự phát và không thể căn cứ trên các hiện tượng ịch sử, xã hội, kinhtế, tâm lý hay các hiện tượng phí tôn giáo đơn thuẫn. Ông nhận đinh rằng lịch sử (hay nguồn gốc) của các đồng tôn giáo được truy nguyên từ sự phát lộ của những linh hiển (Mircea, 2019).
“heo quan điểm duy vật biện chúng và duy vật lị-h sử, tôn giáo được coi l sự phóng chiếu những nhu cầu hay nguyện vọng của con người (Feuerbach, 2004).Mac mot nhà duy vật lỗi lạc cũng cho rằng: "Con người tạo rự tôn giáo ch tôn giáo không tạo ra con người. Tôn giáo là sự tự ý thức và tự tôn của con người, con người hoặc chia tim théy minh, hoặc đã đánh mắt chỉnh minh., tr437-570), Nhu vậy, tôn giáo nói chung và NTTG ni riêng đã được tiếp cận dưới đa dạng góc đô. Tôn giáo có thể được tiếp cận như là sự bắt nguồn từ thể giới tự nhiên với các quan. diễm về học thuyết vạn vật hữu linh của Tylor và Codring mị Thuyết ng bái tiên của Muller hoặc cũng có thể được tiếp cận như là sự tổn tại của một vị thần tối cao gọi là “Thượng Để theo học thuyết độc thin cia Wilhelm Schmidt.
Véi nhing hoe thuyết trên niềm tin của con người gằn như lệ thuộc và chịu sự chỉ phối của thể giới bên ngoài. Theo thời gian, những nghiên cứu vỀ nguồn gốc tôn giáo thay đổi và hướng lên trong con người với quan điểm cho rằng tôn giáo có nguồn gốc từ chính những như cầu của con người Tôn giáo được hình thành để đáp ứng những nguyện vọng, khát khao mà con người không. thể đạt được ở thực ti. Những dại diện của quan điểm này phải kể đến Feuerbach, Mac vi Erud «®_ANghiên cứu về đặc điểm, vai trò của NTTŒ 8 Khi nghiên cứu về đặc điểm của NTTG, B.
Russell (1954) đã cho rằng NTTG là vô căn cứ. Theo ông, không thể đánh giá được đức tin nào lã tốt và đức n nào là wu, chang han nur “ngudi theo mot 16n gido nao dé cho ring, dite tin trong tôn giáo của họ là tốt trong Khi đc tin của những người không the tôn giảo ấy là xắu" tứ hai, chúng ta chỉ cô thể định nghĩa “ức ru” à niễm tin vũng chắc vào một ái gì đó không thể chứng thực được, và một khi đã có chứng cớ rạch rồi thì không ai nói đến đức tin nữa. Tuy vậy, ông cũng nhận thấy rằng: “Mặc đà chẳng ra đã được truyễn tầụ vé thién van hoc cia Cépecnic qua sách giáo khoa, nhưng học thuyết này không thể thâm nhập được vào NTTG, đạo đức hay tink than cia ching ta, tham chỉ nó cũng không th phả hủy due nigm tin cia ching ta vào thuật chiêm tỉnh. Con người vẫn tin mink ra dai nim trong kế hoạch thiêng liêng cia Chia" (Russell, 1950), `Như đã nói ở trên, tôn giáo mang lại cho con người những giá trị tích cực vì thể khong thể không nối đến vai rd quan trọng của tôn giáo đối với đời sống con người Một số ng cứu cho thấy NTTG đóng vai trỏ như là một yếu tổ đễ thỏa mãn nhủ cầu sinh lý vẻ trần an tâm lý của con người trong đời sống.
Như các giai đoạn sinh lý của con người từ thụ thai, sinh nở, trường thành, hôn nhân hay sự chết đều có sự xuất hiện của các nghỉ lễ và niêm tn (Malinowski, 2014). Hay việc đọc thần chú trong suốt quá trình thực hiện công việc trong một vi dy do Malinowsld (2014) đưa ra được xem như cách trắn an tỉnh thần và tạo niềm tin cho con người. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng NTTG giúp con người có xu hướng sống lành mạnh hơn (Karold G.Koenig, 2012) đồng thời những người có NTTG thường cổ hạnh phúc và hài lòng cuộc sống cao hơn (Lm & Putnam, 2010) Như vậy, NTTG được xem xét với các đặc điểm là tính vô căn cứ và tính bền vững. (Russell, 1954), dng thoi NTTG cũng đông vai trồ võ cũng quan trong trong mọi hoạt động sống của con người, giúp con người có xu hướng tổ chức đời sống một cách lành mạnh và hạnh phúc hơn.
® Aghiên cứu vé cong cy do leing NTTG “Trong những năm gần đây, các nghiên cứu trên thể giới cũng tập trung tìm hiểu và xây dựng một số công cụ đo lường về NTTG. Để xây dựng các công vụ đo lường, Bailey đã đưa ra bốn tiêu chí đưa ra làm cơ sở để cđánh giá NTTG: (1) Hoạt động tôn giáo đánh giá hành vĩ tham gia các nghỉ thức tôn ° của tín đồ; (2) Niềm tin chính thống vào giáo lý đánh giá nhận thức; (3) Niềm tin mang tính lên giáo đánh giá nhận thức và cảm xúc về cảm nhận các giá tị, các trải nghiệm tôn ido; (4) Binh hướng tôn giáo đánh giá động lực từ đó NTTG định hình hành vỉ của con "người (Bailey, 1977, được trích dẫn trong Đặng Hoàng Ngân & Nguyễn Thị Minh Hằng, 2016), Xuất phát từ những tiêu chí trên, Tsang và MeCullough (2003, tích dẫn trong Nguyễn Thị Minh Hằng & Đặng Hoàng Ngân, 2016) để xuất mô hình thứ bậc hai mức độ "mà sau này được Hi (2013) gi tên là tính tổ chức tôn giáo (đispositional) và tính chức. ‘nang tn gido (functional). Dya trén, mô hình hai thứ bậc này đã có nhiều nghiên cứu được.
thực hiện nhằm xây đựng các thang đo đánh giá NTTG trong nghiên cứu tâm lý học Dưới góc độ tiếp cận tổ chức tôn giáo, các biến số được đưa ra để xây dựng thang đo bao gồm: Niềm tin vào giáo lý: Gái kết tôn giáo; CNHP; Sự tham gia và nhận sự trợ từ công đồng tôn giáo; Thực hành tôn giáo mang tính cá nhân. Dựa trên cácb in s6 đã được nnêu trên, cá túc giá đã tiến hành xây dựng các thang đo NTTG. Chẳng hạn, Rohrbaugh và 1essor dã đề xuất thang do Tink ton giáo (Reigiosiy Mesure) đánh giả ảnh hưởng cũa tôn giáo đến cuộc sống bảng ngày của các tín đỏ, xác định mức độ tham gia thực bảnh các hoạt động tôn giáo thông qua bổn khía cạnh nghỉ ễ, hệ quả, r tưởng và tri nghiệm. Tương tự như vậy, để xem xét mức độ quan trọng của NTTG đối với người trưởng thành trong việc ra quyết định trong đời sống hằng ngày, Roof và cộng sự đã xây đựng thang đo Tẳm quan trọng của sự gắn kế tôn giáo (Salienee in Religious Commimment Scle) (Roof & Perkins 1975; Rohrbaugh và Jessor, 1975, được dẫn trong Đặng Hoàng Ngân & Nguyễn Thị Minh Hẳng, 2016) 'Cũng dựa trên cách tiếp cận tỏ chức tôn giáo, Huber và Huber dé xây dựng thang đo.
Trọng tâm tôn giáo (The Centrality of Religiosty Scale) nhim đánh giá mức độ trung tầm, tim quan trọng hoặc sự nồi bật của các ý nghĩa tôn giáo trong nhân cách qua năm chiều kích đo lưỡng là thực hành heo cộng đồng, thực hành cá nhân, trãinghiệm tôn gián hệ tơ tưởng và trí tuệ tôn giáo (Huber & Huber, 2012), Ngoài ra còn một số thang đo khác đã được được xây dựng với các mục tiêu đánh giá khác nhau (Sethi & Seligman, 1993; Wonhinglon etal. 2003; Van Capellen tal. 2016, được trch dẫn trong Đăng Hoàng Ngân & Nguyễn Thị Minh Hẳng, 2016). Yếu tổ thứ hai trong mô hình thứ bậc hai mức độ là tính chức năng tôn giáo.