CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh như hiện nay, doanh nghiệp nào có thể mang lại cho khách hàng những giá trị cao hơn sẽ được khách hàng ưa thích hơn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh cho riêng mình. Quan tâm và đáp ứng kịp thời những thay đổi trong yêu cầu của khách hàng, thời gian giao hàng nhanh hơn, chính xác hơn, sản phẩm đa dạng đáp ứng cho từng yêu cầu khác nhau của từng cá nhân, giá cả hợp lí … là những giá trị mà khách hàng mong muốn nhận được. Các doanh nghiệp ngày nay dần dần nhận ra rằng chỉ riêng một bộ phận, một công ty riêng lẻ thì không thể nào mang lại cho khách hàng những giá trị trên mà cần phải có sự liên kết của tất cả các thành viên trong toàn chuỗi cung ứng (Barratt, 2012, dẫn theo Ipek, 2011).
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về đề tài chuỗi cung ứng tại Việt Nam đang là chủ đề hấp dẫn các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành, làm thế nào để có thể giúp các bộ phận trong doanh nghiệp hoạt động ăn khớp với nhau, làm thế nào để các thành viên trong toàn chuỗi có thể phối hợp nhịp nhàng, quá trình tạo ra sản phẩm được trôi chảy và mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Các nhà quản lý tại Việt Nam cũng như các doanh nghiệp trên toàn thế giới đang dần dần xem trọng đến việc nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng của mình, nhận thấy rằng việc quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ giúp cải thiện cho hoạt động của doanh nghiệp. Nói chung, có thể phân các nghiên cứu về chủ đề quản lý chuỗi cung ứng thành hai hướng chính: - Xây dựng mô hình toán học trong vận hành chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu là các mô hình vận hành được tính toán sao cho đạt giá trị tối ưu tương ứng với các ràng buộc và điều kiện cụ thể (bài toán thiết kế chuỗi cung ứng). - Tìm kiếm các tiền tố và xây dựng mô hình nhân quà của các yếu tố tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng.
Nghiên cứu này được thực hiện theo ý tưởng của hướng thứ 2: tìm kiếm và xây dựng mô hình các tiền tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng, thực hiện nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai. Với mong muốn tìm ra các tiền tố tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng, giúp các nhà quản lý tại Việt Nam tìm ra các giải pháp để cải thiện hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của mình, từ đó có thể đạt được những kết quả khả quan trong hoạt động kinh doanh, nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Sự tích hợp trong chuỗi cung ứng và sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi có tác động thế nào lên hiệu quả vận hành của chuỗi? - Tại Việt Nam thì việc chia sẻ thông tin với đối tượng bên ngoài tổ chức của mình vẫn còn là một vấn đề nhạy cảm, các doanh nghiệp vẫn thường e ngại khi chia sẻ các thông tin liên quan đến hoạt động nội bộ của mình đến các đối tác; như vậy, mức độ ảnh hưởng của sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng như thế nào? - Có hay không mối quan hệ giữa sự tích hợp trong chuỗi và quá trình chia sẻ thông tin? 1 Để trả lời các câu hỏi này, một số nghiên cứu tại nước ngoài đã được thực hiện. Dựa vào định nghĩa về công tác quản lý chuỗi cung ứng của Lambert và Cooper (2000): “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của các quá trình kinh doanh chủ chốt từ những người tiêu dùng cuối cùng cho đến các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu tiên nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và thông tin sao cho cả khách hàng lẫn các thành viên trong chuỗi đều nhận được lợi ích”, có thể thấy taq1c giả đã nhấn mạnh khái niệm “tích hợp” là khái niệm trọng tâm trong chuỗi cung ứng. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã chỉ ra rằng: việc tích hợp trong toàn chuỗi sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh (Du, 2007, Flynn và ctg, 2010, dẫn theo Ipek, 2011), cải thiện hiệu quả kinh doanh (Kim, 2009), linh hoạt hơn trong việc giảm thời hạn giao hàng, đáp ứng nhanh với các yêu cầu từ khách hàng (Clark & Lee, 2000, dẫn theo Ipek, 2011), loại trừ được hiệu ứng Bullwhip (Lee, 1997, dẫn theo Ipek, 2011), giúp giảm chi phí giao dịch (Zhao & ctg, 2008).
Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi là một trong những nhân tố quan trọng giúp chuỗi hoạt động hiệu quả hơn thông qua việc giúp dòng thông tin luân chuyển nhanh hơn, giảm thời gian đáp ứng đơn hàng, gia tăng sự hợp tác, chia sẻ rủi ro cũng như lợi ích giữa các thành viên. Theo như kết quả tìm kiếm của tác giả, các nghiên cứu tương tự cho các doanh nghiệp tại Việt Nam còn khá hạn chế. Do đó, đề tài “Mô hình các yếu tố tác động đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu phía trên, đồng thời kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu sẽ là nguồn tham khảo cho các nhà quản lý trong hoạt động ra quyết định hàng ngày của mình. Mục tiêu của nghiên cứu Thực hiện nghiên cứu này nhằm đáp ứng một số mục tiêu sau: - Xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp - Xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của việc thực hiện tích hợp trong chuỗi cung ứng.
- Xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của việc chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. - Một số kiến nghị để doanh nghiệp nậng cảo hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng của mình. Giới hạn của nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện tại các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, đang hoạt động tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp tại các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai. Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa nhà máy/ doanh nghiệp với nhà cung cấp trực tiếp và khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp.
2 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm “Sự tích hợp” trong chuỗi cung ứng (Supply Chain Itegration): Một định nghĩa về công tác quản lý chuỗi cung ứng của Lambert và Cooper (2000) đã nhấn mạnh: “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của các quá trình kinh doanh chủ chốt từ những người tiêu dùng cuối cùng cho đến các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu tiên nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và thông tin sao cho cả khách hàng lẫn các thành viên trong chuỗi đều nhận được lợi ích”. Theo định nghĩa này thì khái niệm “tích hợp” là khái niệm trọng tâm trong chuỗi cung ứng. Một doanh nghiệp có thể thực hiện tích hợp theo dạng “dọc” hay dạng “ngang”, hoặc áp dụng cả hai.
Một sản phẩm được đưa ra thị trường phải trải qua nhiều công đoạn như: thiết kế, chuẩn bị nguyên vật liệu, tiến hành sản xuất, phân phối, các dịch vụ cộng thêm… Lấy ví dụ, để tạo ra một sản phẩm may mặc cần có các nguyên vật liệu như vải, chỉ, nút., để dệt nên vải hay se chỉ thì cần có sợi, để có thể se sợi thì cần có xơ bông hoặc xơ hóa học… Tất cả những công đoạn đó tạo thành chuỗi, và thường thì một doanh nghiệp có thể đảm nhận một vài hay toàn bộ công đoạn trong cả chuỗi để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh khi đến tay người tiêu dùng. Nếu doanh nghiệp đảm nhận toàn bộ các công đoạn thì doanh nghiệp đó được gọi là doanh nghiệp thực hiện việc tích hợp dọc trong chuỗi cung ứng; ngược lại, một số doanh nghiệp chỉ đảm nhận một vài công đoạn và thực hiện hợp tác với các công ty khác ở các công đoạn còn lại thì gọi là tích hợp ngang. Như vậy, đối với các doanh nghiệp hướng đến chiến lược tích hợp ngang hay tích hợp dọc thì có thể thấy được một điều rằng, nếu không có sự liên kết tốt giữa các mắc xích trong toàn chuỗi cung ứng thì việc tạo ra sản phẩm sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, cần phải có sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi để dòng thông tin, nguyên vật liệu, sản phẩm được lưu chuyển chính xác và kịp thời (Lambert & Cooper, 2000).
Trong cạnh tranh toàn cầu, cần phải có sự liên kết tốt giữa các nhà cung cấp, giữa các bộ phận trong cùng tổ chức và khách hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho dòng lưu chuyển thông tin nội bộ cũng như lưu chuyển thông tin, hàng hóa với đối tác bên ngoài. Và, trong toàn chuỗi cung ứng có rất nhiều thành viên với các mối quan hệ nhà cung ứng-khách hàng cực kỳ phức tạp, do đó sự trao đổi thông tin giữa các thành viên này là hết sức cần thiết. Theo Lee & ctg. (2007), sự tích hợp trong chuỗi cung ứng cần được xét ở ba góc độ: 1) Tích hợp với khách hàng; 2) Tích hợp với nhà cung cấp và 3) Tích hợp trong nội bộ doanh nghiệp.
Tích hợp với khách hàng: Sự tích hợp hay mối liên kết với khách hàng liên quan đến sự liên kết trong quá trình dự báo và lên kế hoạch sản xuất, khả năng doanh nghiệp có thể giao tiếp với khách hàng để đảm bảo sẽ hiểu và giao cho khách hàng các sản phẩm đúng như yêu cầu, đúng số lượng và đúng thời điểm khách hàng cần. Để có được mối liên kết chặt chẽ với khách hàng doanh nghiệp cần có hệ thống chia sẻ thông tin về đơn hàng, tình trạng sản xuất đơn hàng, hệ thống xử lý đơn hàng có tính tương tác cao, có sự liên hệ chặt chẽ giữa các cấp quản lý của doanh nghiệp và khách hàng của mình. Tích hợp với nhà cung cấp: Ngoài việc tạo mối liên kết với khách hàng, việc xây dựng mối quan hệ hợp tác cao với các nhà cung cấp chính là một việc hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp.