MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việc xây dựng các công trình thuỷ điện nhằm tạo nguồn năng lượng để phát triển kinh tế xã hội là mệt nhu cầu bức thiết hiện nay. ở nước ta bên cạnh một số các công trình thuỷ điện đã được hoàn thành như Hoà Bình, laly, Hàm Thuận - Đa Mi, Thác Mơ, sông Hinh và Vĩnh Sơn, trong chiến lược phát triển ngành điện sắp tới sẽ xây dựng khoảng $0 công trình thuỷ điện lớn và vừa được xây dựng. Vùng Tây Nguyên và Tây Quảng Nam sẽ có khoảng i3 nhà máy thuỷ điện lớn, hàng chục công trình thuỷ điện vừa và nhỏ ở Lào Cai và Hà Giang, đặc biệt là công trình thuỷ điện Sơn La công suất 2400 MW lớn nhất Đông Nam Á.
Việc xây dung các công trình thuỷ điện, đặc biệt là các công trình lớn luôn gắn với công tác Tái định cư và nó trở thành một vấn đề luôn được quan tâm hiện nay, dù ở quốc gia phát triển hay các quốc.gia đang phát triển, vấn dé di dân - tái định cư luôn là một khâu quan trọng trong quy trình đầu tư xây dựng các công trình thuỷ điện. Đây là một tiêu chí được cân nhắc để tính toán hiệu quả kinh tế khi quyết định đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện, một mặt bảo đảm nhu cầu năng lượng cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nhưng cũng đặt ra yêu cầu cần giải quyết vấn đề công bằng xã hội cho các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng. Nghiên cứu, đánh giá mô hình tái định cư là một yêu cầu không thể thiếu bởi nó giúp cho việc xây dựng và điều chỉnh những định hướng, chính sách của chính phủ cũng như đề ra các qui trình kỹ thuật tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm các yếu tố vẻ ổn định dân sinh va hiệu quả kinh tế ~ xã hội. Đối với nước ta hiện nay vấn đề này càng trở nên cấp thiết hiện nay khi đất nước ta bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề này, góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh có liên quan trong công tác đền bù đi dân tái định cư ở các công trình thuỷ điện, chúng tôi chọn đề tài VJghiên cứu một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thuỷ điện để nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu đề tài - Ngoài nước Trong khu vực đã có một số nghiên cứu xung quanh vấn đề tái định cư ở các công trình thuỷ điện như: ở Trung Quốc (NM thuỷ điện Tam Hiệp), Đông Ma lại xi a, Lào (NM thuỷ điện Nam Ngitm) va Cam Pu Chia, Thai Lan v. Tuy rằng chính sách và vấn đề thực hiện ở từng nước có khác nhau do không đồng nhất về đặc điểm địa lý dan cu, dan tộc, điều kiện kinh tế và thể chế chính trị. Nhưng đây là những thông tín tham khảo cho những nghiên cứu mô hình tái định cư ở nước ta.
Trong thời gian vừa qua việc nghiên cứu nội dung liên quan tái định cư ở các công trình thuỷ điện thực hiện được chưa nhiều. Một số cơ quan tiến hành như Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Ngân hàng Thế giới thông qua các hoạt động dự án tài trợ của quốc tế đối với thuỷ điện laly, Hoà Bình v. Nội dung mới chỉ dừng lại ở một số các khía cạnh chính sách chung, hay khảo sát, đánh giá vấn đề kinh tế- xã hội, chưa mang tính hệ thống và có sự khái quát, so sánh. Gần đây Ban chỉ đạo Nhà nước về di đân tái định cư thuỷ điện Sơn La và UBND 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La đã tiến hành tổng kết 2 năm thực hiện dự án mẫu Tân Lập và Si Pa Phìn.
Bởi vậy đây là một nội dung quan trọng cần được ưu tiên nghiên cứu nhằm tổng kết những bài học kinh nghiệm và đưa ra những đề xuất chính sách và giải pháp tổ chức thực hiện phù hợp bối cảnh tình hình và nhu cầu phát triển mới. Đặc biệt đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương khoá ÍX vẻ “Tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Phạm vi nghiên cứu. Trong khuôn khổ thời gian và điều kiện kinh phí có hạn, nhóm nghiên cứu lựa chọn một số điểm tái định cư để tiến hành khảo sát đánh giá.
Bao gồm: Thuỷ điện Sông Hinh (PhúYên), thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi (Bình Thuận - Lâm Đồng), thuỷ điện laly (Gia Lai — Kon Tum), thuỷ điện Na Hang (Tuyên Quang), thuỷ điện Sơn La (2 điểm dự án mẫu Lai Châu và Sơn La), Thuỷ điện Hoà Bình. ˆ Tuy nhiên trong đợt này chỉ khảo sát điểm tái định cư của dự án thuỷ điện Na Hang, các điểm còn lại sử dụng kết quả đã được thực hiện trước đó vào năm 2003. Những nội dung liên quan đến kết quả thực hiện, đầu tư, chính sách tái định cư, cách thức tổ chức quản lý là những vấn đề chính sẽ được xem xét, nghiên cứu. Mục đích, nội dung nghiên cứu.
Mục đích: : - Nhằm đánh giá kết quả thực hiện một số dự án, mô hình tái định cư, đúc rút những bài học kinh nghiệm va đưa ra những khuyến nghị về công tác tái định vùng đồng bào dán tộc thiểu số cư nhằm đóng góp cho việc xây dựng chính sách cũng như tổ chức triển khai thực hiện tái định cư thuỷ điện Sơn La cũng như các công trình thuỷ điện trong tương lai. Nội dung nghiên cứu của đề tài, lập trung giai quyết các vấn đề san: - Một số cơ sở lý luận, và thực tiến bài học kinh nghiệm của quốc tế và các quốc gia Châu á về vấn để tái định cư các công trình thuỷ điện. - Đánh giá chung về công tác tái định cư, định canh. mô hình tái định cư ở các công trình thuỷ điện lựa chọn.
- Phân tích các chính sách liên quan về đền bù, tái định cư, trọng tâm là Nghị định 22/CP và để xuất khung một số cơ chế chính sách tái định cư đối với đối tượng bị ảnh hưởng các công trình thuỷ điện, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, + Cách tiếp cận: - Tiếp cận từ định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước ta trong việc giải quyết vấn đề tái định cư vùng miền núi và dân tộc. - Tiếp cận từ thực tiễn triển khai các mô hình tái định cư ở các công trình thuỷ điện để có những phân tích, đánh giá, nhận định tình hình và xu thế phát triển. + Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập và phân tích thông tin: từ cơ sở dữ liệu thông tin, báo cáo và khảo sát thực địa.
- Phương pháp chuyên gia: dựa trên kết quả hội thảo, thảo luận, trao đổi và cung cấp thông tin từ các nhà chuyên môn và quản lý các cấp Trung ương và địa phương. - Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) sử dụng các công cụ quan sát, điều tra, thảo luận nhóm, phỏng vấn, cây vấn đề. - Phương pháp phân tích và tổng hợp, 6. Đóng góp của nghiên cứu Nghiên cứu nhằm cung cấp thêm thông tin cho người đọc cái nhìn đầy đủ hơn, tổng quan hơn về những mặt được, chưa được, những khuyến nghị từ việc triển khai công tác tái định cư liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số ở các công trình thuỷ điện cùng những chính sách tái định cư có liên quan 7.
Kết cấu: gồm 3 phần ngoài phần mở đâu, kết luận và phụ lục - Phan I. Van dé tai định cư ở các công trình thuỷ điện và chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Công tác tái định cư ở một số công trình thuỷ điện - Phán III. Một số khuyến nghị chính sách và giải pháp trong việc triển khai công tác tái định cư ở các công trình thuỷ điện Giải thích một số khái niệm, thuật ngữ.
+ Tái định cư: là một quá trình từ đến bù, tái bố trí và khôi phục cho những người bị ảnh hưởng của đự án khi đi chuyển cơ học từ một nơi cư trú này đến nơi cư trú khác. + Tái định cư không tự nguyện: tái định cư xảy ra khi bản thân các hộ gia đình quyết định di chuyển không vì các lý do của chính bản thân họ. + PAP (những người bị ảnh hưởng): là tất cả những người bị ảnh hưởng thiệt hại trực tiếp bởi dự án, bao gồm: - Thiệt hại về quyển sở hữu và tài sản đất đai, nhà ở, hoa lợi do bị thu hồi đất ở, đất sản xuất, toàn bộ hoặc một phần, vĩnh viễn hay tạm thời. - Thiệt hại, ảnh hưởng xấu về thu nhập việc làm, nghề nghiệp, chỗ làm hoặc nơi ở, sản xuất kinh doanh.
- Giảm mức sống như chất lượng nhà cửa, cơ sở hạ tầng dịch vụ và phúc lợi xã hội cho cộng đồng và khả năng chia sẻ, hoà nhập các hoạt động xã hội so với trước đó. + PAH (hộ gia đình bị ảnh hưởng): là các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án, được xác định là những người độc lập về kinh tế mặc dù sống chung trong một ngôi nhà. + Những người dễ tổn thương: là nhóm người chịu thiệt hại từ việc tái định cư hơn mức trung bình , như người già, trẻ em, người vô gia cư, người ít hiểu biết pháp luật- chính trị, người dân tộc thiểu số, người sống ở những nơi xa côi, hẻo lánh. + Cộng đồng dân cư sở tại: là những người dân ở các khu vực tiếp nhận những người tái định cư.
l + Thu nhập: là lương, tiên mặt hoặc hiện vật, gia súc, các vật tiên ích khác không phải là tiền mà các cá nhân, hộ gia đình thu được trong quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh, sở hữu. + Mức sống tối thiểu: là mức sống hàng ngày thể hiện mức thu nhập của hộ gia đình và tài sản, dinh dưỡng, sức khoẻ, nhà ở , giáo dục cũng như các hoạt động văn hoá xã hội trong phạm vi cộng đồng lớn hơn mức sống trong toàn bộ qui phúc lợi. + Ổn định đời sống kinh tế: là những biện pháp đã được sử dụng để thay thế hệ thống sản xuất của hộ gia đình trước đây cùng với các cơ hội tạo ra khoản thu nhập mới, mà việc đó thể cải thiện mức sống tối thiểu. Các biện pháp đó bao g6m: phat triển nóng nghiệp, phát triển các hoạt động hỗ trợ, phát triển buôn bán, buôn bán nhỏ, xây dựng, giao thông, và lao động tiền lương.