Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu vực miền núi phía Bắc giữ vị trí chiến lược đối với sự phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng và duy trì cân bằng hệ sinh thái của Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những vùng có tỷ lệ nghèo cao do rào cản địa lý, khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công và thị trường. Những năm gần đây, hệ sinh thái đồi núi vốn không đồng nhất và dễ bị tổn thương tại khu vực này đang chịu tác động tiêu cực từ các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu (BĐKH), biểu hiện qua sự biến động bất thường về nhiệt độ, các đợt mưa lớn cực đoan và sương muối, gây rủi ro lớn cho sản xuất nông - lâm nghiệp.

Tỉnh Bắc Kạn là một trong những địa phương miền núi chịu nhiều thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp do thiên tai và thời tiết cực đoan. Tại xã Như Cố, huyện Chợ Mới, đồng bào các dân tộc thiểu số đã tích lũy vốn kiến thức bản địa (KTBĐ) phong phú qua nhiều thế hệ để canh tác thích ứng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Nhằm tài liệu hóa và phát huy các giá trị tri thức này, đề tài "Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn" được thực hiện bởi sinh viên Dương Thị Hoạt, chuyên ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (2015).

Mục đích nghiên cứu của đề tài:

  • Giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Bắc Kạn.
  • Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp.
  • Xây dựng các mô hình cây trồng thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến động khí hậu dựa vào kiến thức bản địa của cộng đồng địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu.
  2. Tài liệu hóa các kiến thức và kỹ thuật bản địa của cộng đồng trong dự đoán, ứng phó và thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan (HTTTCĐ) và biến động thời tiết trong sản xuất nông nghiệp.
  3. Phân tích sự hỗ trợ của chính quyền các cấp nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp thông qua hệ thống chính sách liên quan.
  4. Theo dõi và đánh giá khả năng thích ứng của các mô hình cây trồng được lựa chọn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn xã và các mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
  • Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2015 đến ngày 10/05/2015.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung pháp lý

Nghiên cứu tiếp cận vấn đề dựa trên các khái niệm chuẩn hóa về biến đổi khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi khí hậu (IPCC) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO). Đề tài sử dụng phân loại 8 nhóm phương pháp thích ứng theo Báo cáo Đánh giá thứ hai của IPCC (IPCC Nhóm II), bao gồm: chấp nhận tổn thất; chia sẻ tổn thất; làm giảm sự nguy hiểm; ngăn chặn các tác động; thay đổi cách sử dụng; thay đổi địa điểm; nghiên cứu; giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi.

Khái niệm và đặc trưng kiến thức bản địa được hệ thống hóa theo phân loại của Viện Khôi phục Nông thôn Quốc tế (IIRR, 1999), bao gồm 9 loại hình tri thức: thông tin, kỹ thuật công nghệ, tín ngưỡng, công cụ, vật liệu, kinh nghiệm, tài nguyên sinh học, tài nguyên nhân lực và giáo dục truyền khẩu.

Căn cứ pháp lý của nghiên cứu dựa trên các văn bản quy phạm và chính sách:

  • Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
  • Quyết định số 1890/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020;
  • Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực môi trường;
  • Các văn bản của UBND tỉnh Bắc Kạn: Quyết định 799/QĐ-UBND (Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH tỉnh Bắc Kạn), Quyết định 1113/QĐ-UBND, Quyết định 1114/QĐ-UBND, Quyết định 899/QĐ-UBND, Chỉ thị 02/CT-UBND; Chỉ thị 08/CT-TU của Tỉnh ủy Bắc Kạn và Công văn 3791/BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu định tính và định lượng:

  1. Thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê đất đai, báo cáo sản xuất nông nghiệp và thiệt hại thiên tai giai đoạn 2012–2014 của UBND xã Như Cố; dữ liệu trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001–2011; kịch bản biến đổi khí hậu vùng Đông Bắc Bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  2. Thảo luận nhóm tập trung (FGD): Thực hiện tại cộng đồng với 5 nhóm thảo luận định hướng (mỗi nhóm từ 7 đến 10 người), bao gồm: 01 nhóm nam giới; 01 nhóm nữ giới; 01 nhóm người hiểu biết trong xã; 01 nhóm nam dân tộc Dao khó khăn; 01 nhóm nữ dân tộc Dao khó khăn.
  3. Phỏng vấn sâu (KII): Thực hiện với 14 cá nhân đại diện tại địa phương, gồm 6 người cao tuổi (3 nam, 3 nữ), 3 người am hiểu địa phương, 2 cán bộ đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ) và 3 cá nhân tiêu biểu được chọn từ các nhóm thảo luận.
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu, mã hóa và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel; kết hợp phân tích định tính đối với các nhận thức và kinh nghiệm bản địa.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng dễ bị tổn thương của vùng núi phía Bắc và tỉnh Bắc Kạn trước biến đổi khí hậu. Xác định rõ mục đích, 4 mục tiêu nghiên cứu, các yêu cầu kỹ thuật về tính trung thực, khách quan của số liệu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài trong bảo vệ môi trường nông thôn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở khoa học về khí nhà kính ($CO_2, CH_4, N_2O, HFCs, PFCs, SF_6$), các khái niệm thích ứng theo IPCC, Burton (1998) và Thomas (2007). Phân tích tổng quan các mô hình ứng phó BĐKH trên thế giới (công trình đê điều tại Hà Lan, đập chắn sóng Thames Barrier tại Anh, hệ thống phòng lũ tại Nhật Bản; tháp tránh lũ machan ở Ấn Độ, tôn nền nhà vùng cồn cát chars ở Bangladesh, ao tích nước albarradas ở Ecuador). Đánh giá kịch bản BĐKH vùng Đông Bắc Bộ (dự báo nhiệt độ tăng đến 2,5°C vào cuối thế kỷ 21 theo kịch bản B2, lượng mưa mùa khô giảm từ 3–9%) và tổng hợp các văn bản pháp lý chỉ đạo tại tỉnh Bắc Kạn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết đối tượng khảo sát là cộng đồng các dân tộc (Kinh, Tày, Nùng, Dao) và các mô hình thích ứng; xác định khung nội dung từ điều kiện tự nhiên, tác động BĐKH đến đánh giá mô hình; thiết lập quy trình thu thập dữ liệu thông qua 5 nhóm thảo luận định hướng, 14 mẫu phỏng vấn sâu và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê mô tả.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày kết quả điều tra toàn diện về xã Như Cố trên các mặt:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Xã có địa hình đồi núi dốc phức tạp chia cắt bởi tỉnh lộ 256; độ cao trung bình 400–600 m (cao nhất là núi Mu Tồ 858,8 m, thấp nhất là đồng Khau Chủ 64,8 m); nhiệt độ trung bình năm 21°C; lượng mưa tập trung 75–80% vào tháng 5–10; có 87–88 ngày sương mù và 2–3 ngày sương muối mỗi năm.
  • Hiện trạng kinh tế - xã hội: Năm 2014, toàn xã có 637 hộ với 2.603 nhân khẩu thuộc 4 dân tộc; 1.430 lao động (nông - lâm - thủy sản chiếm 65%, công nghiệp - xây dựng 25,2%, thương mại - dịch vụ 9,8%).
  • Hiện trạng sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm 88,9% (trong đó đất lâm nghiệp chiếm 86,44% diện tích tự nhiên). Sản xuất duy trì cơ cấu 2 vụ lúa và 1 vụ màu.
  • Phân tích 3 mô hình cây trồng thích ứng dựa vào KTBĐ:
    1. Mô hình khoai tây chịu rét (vụ đông): Tận dụng đất ruộng sau 2 vụ lúa, áp dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu và che phủ rơm rạ truyền thống để giữ ấm chân đất, hạn chế sương muối.
    2. Mô hình dưa lê chịu hạn (vụ mùa 2014): Bố trí trên đất soi bãi, ruộng cạn thiếu nước tưới trong mùa khô, tận dụng khả năng chịu hạn và thời gian sinh trưởng ngắn.
    3. Mô hình chuối tây xen gừng ta trên đất dốc: Trồng xen tầng tán nhằm tạo độ che phủ, hạn chế xói mòn và rửa trôi đất do mưa lớn, kết hợp giữ ẩm bề mặt và nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt kết quả nghiên cứu về mức độ phù hợp của 3 mô hình cây trồng dựa trên KTBĐ; khẳng định tính khả thi trong việc kết hợp kinh nghiệm truyền thống với chuyển đổi cơ cấu mùa vụ; đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền cấp xã, huyện trong việc hỗ trợ vốn, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ để nhân rộng mô hình.


Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Dữ liệu hiện trạng đất đai và kinh tế nông nghiệp xã Như Cố

Kết quả điều tra năm 2014 ghi nhận tổng diện tích tự nhiên của xã Như Cố là 4.504,43 ha với cơ cấu sử dụng đất như sau:

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp 4.004,30 88,90
Đất phi nông nghiệp 436,10 9,68
Đất chưa sử dụng 64,04 1,42
Tổng diện tích 4.504,43 100,00

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo UBND xã Như Cố trong khóa luận

Tình hình sản xuất các loại cây trồng chính trên địa bàn xã giai đoạn 2012–2014:

STT Loại cây trồng Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
1 Lúa xuân Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
65
42
273
65
46
292,65
65
46
299
2 Lúa mùa Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
122
45
549
122
46
561,2
122
44
536,8
3 Ngô Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
75
39
292,5
76
39
296,4
78
39
304,2
4 Lạc Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
3,5
14
4,9
3,2
15
4,8
3,5
15
5,25
5 Sắn Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
12
100
120
12
100
120
10
100
100
6 Khoai lang Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
5,5
41
22,55
5,0
42
21,0
4,5
42
18,9
7 Mía Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
0,5
400
20
1,0
400
40
1,0
400
40
8 Rau các loại Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
16
60
96
17
58
98,6
17
60
102
9 Cây chè Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
6,0
80
48
8,0
90
72
12,2
90
109,8

Nguồn: UBND xã Như Cố (2015)

Biến động đàn vật nuôi trên địa bàn xã giai đoạn 2012–2014:

STT Loại vật nuôi Đơn vị tính Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Tốc độ tăng BQ (%)
1 Trâu Con 554 560 565 100,98
2 Bò Con 98 80 88 94,75
3 Ngựa Con 10 12 14 118,31
4 Dê Con 442 451 460 102,00
5 Lợn Con 2.970 - - 100,58
6 Gia cầm Con 18.500 - - 96,21

Nguồn: UBND xã Như Cố (2015)

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Tài liệu hóa tri thức bản địa: Ghi nhận có hệ thống các kinh nghiệm dự báo thời tiết của người Dao và các dân tộc tại chỗ (như quan sát hành vi của trâu rừng chạy về chuồng để đón lũ, sự đổi màu nước ao sang rêu xanh 2–3 ngày trước mưa to) cùng các kỹ thuật thủy lợi truyền thống (guồng nước, cọn nước, ống bương dẫn nước, đào giếng ruộng giữ ẩm).
  2. Hiệu quả 3 mô hình thích ứng:
    • Hiệu quả kinh tế: Cả 3 mô hình (khoai tây vụ đông, dưa lê chịu hạn vụ mùa, chuối xen gừng trên đất dốc) đều giúp tăng hệ số sử dụng đất, tạo nguồn thu nhập bổ sung từ đất nhàn rỗi hoặc đất dốc kém màu mỡ.
    • Hiệu quả môi trường: Giảm xói mòn và rửa trôi đất dốc nhờ cấu trúc xen canh nhiều tầng tán của chuối tây và gừng ta; kiểm soát lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; giữ ẩm đất tự nhiên.
    • Hiệu quả xã hội: Tận dụng lao động nông nhàn, tăng cường gắn kết cộng đồng và bảo tồn các giống cây trồng địa phương.
  3. Giải pháp kiến nghị: Tăng cường tập huấn kỹ thuật thâm canh thích ứng BĐKH; lồng ghép các hoạt động quản lý rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp xã; xây dựng cơ chế hỗ trợ vốn và liên kết chuỗi tiêu thụ sản phẩm cho nông hộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian thực địa ngắn (từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015), nghiên cứu chỉ tập trung theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất trong một vụ sản xuất; phạm vi điều tra giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp xã (xã Như Cố). Các đánh giá về hiệu quả kinh tế và môi trường mới dừng ở mức so sánh bước đầu giữa các nông hộ tham gia mô hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khóa luận định hướng tiếp tục theo dõi chu kỳ canh tác dài hạn của mô hình xen canh chuối tây - gừng ta trên đất dốc qua nhiều năm; mở rộng phạm vi đánh giá tính thích ứng sang các xã lân cận thuộc huyện Chợ Mới và các tiểu vùng sinh thái khác của tỉnh Bắc Kạn; xây dựng quy trình nhân rộng có sự phối hợp giữa trạm khuyến nông và chính quyền địa phương.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Cụ thể:

  • Phương pháp tiếp cận có sự tham gia (PRA): Cung cấp biểu mẫu và cách thức tổ chức 5 nhóm thảo luận chuyên đề và phỏng vấn sâu người dân vùng cao trong nghiên cứu thích ứng BĐKH.
  • Tài liệu hóa kiến thức bản địa: Cung cấp dẫn chứng thực tế về sự kết hợp giữa tri thức địa phương và kỹ thuật nông nghiệp hiện đại trong việc chống chịu rét hại, hạn hán và suy thoái đất dốc.
  • Dữ liệu thực địa: Cung cấp bộ số liệu thống kê chi tiết về cơ cấu đất đai, cây trồng, vật nuôi tại xã Như Cố giai đoạn 2012–2014 phục vụ các nghiên cứu so sánh về kinh tế nông hộ miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu dân tộc và lực lượng lao động tại xã Như Cố năm 2014 được ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu thống kê năm 2014 của UBND xã, Như Cố có 637 hộ với 2.603 nhân khẩu, gồm 4 dân tộc cùng sinh sống: Kinh, Tày, Nùng, Dao trên 11 thôn bản. Dân số trong độ tuổi lao động là 1.430 người (chiếm 55% dân số). Trong đó, lao động ngành nông - lâm - thủy sản là 930 người (65%), ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng là 360 người (25,2%), và thương mại - dịch vụ là 140 người (9,8%). Quy mô trung bình đạt 4,1 người/hộ.

2. Kịch bản biến đổi khí hậu vùng Đông Bắc Bộ đưa ra những dự báo gì về nhiệt độ và lượng mưa?

Theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ở mức phát thải trung bình (B2), nhiệt độ trung bình năm của khu vực Đông Bắc dự kiến tăng 0,5°C vào năm 2020, 1,0°C vào năm 2040, và đạt mức tăng 2,5°C vào năm 2100 so với thời kỳ 1980–1999. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm tăng từ 1,4% (năm 2020) lên 7,3% (năm 2100). Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều, trong đó lượng mưa vào giữa mùa khô (tháng 3 đến tháng 5) có xu hướng giảm từ 3% đến 9%.

3. Khóa luận đã lựa chọn và đánh giá những mô hình cây trồng thích ứng nào tại xã Như Cố?

Khóa luận đã xây dựng và theo dõi 3 mô hình cây trồng thích ứng dựa vào KTBĐ:

  1. Mô hình khoai tây chịu rét: Bố trí trong vụ đông sau thu hoạch lúa mùa nhằm tránh ảnh hưởng của sương muối và rét hại.
  2. Mô hình dưa lê chịu hạn: Trồng trong vụ hè thu trên đất bãi và ruộng cạn thiếu nước tưới.
  3. Mô hình chuối tây xen gừng ta: Áp dụng trên đất dốc nhằm che phủ tầng đất mặt, chống xói mòn do mưa lớn và gia tăng giá trị kinh tế.

4. Tỷ lệ diện tích đất lâm nghiệp trong cơ cấu đất tự nhiên của xã Như Cố là bao nhiêu?

Tính đến ngày 01/01/2014, tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã là 3.893,51 ha, chiếm 86,44% tổng diện tích tự nhiên toàn xã (4.504,43 ha). Trong đó, đất rừng phòng hộ là 1.324,35 ha (chiếm 29,40%), hoàn toàn là rừng tự nhiên phòng hộ; đất rừng sản xuất là 2.569,16 ha (chiếm 57,04%), bao gồm rừng tự nhiên sản xuất (2.409,27 ha), rừng trồng sản xuất (132,86 ha), đất khoanh nuôi phục hồi (0,72 ha) và đất trồng rừng sản xuất mới (26,31 ha).

5. Những biểu hiện biến đổi khí hậu cụ thể nào đã được ghi nhận qua số liệu khí tượng tại địa phương?

Số liệu từ Trạm Khí tượng Thủy văn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001–2011 cho thấy nhiệt độ chênh lệch rõ rệt giữa các mùa: nhiệt độ cao từ tháng 5 đến tháng 9 duy trì ở mức 25–30°C, các tháng mùa đông (tháng 12, 1, 2, 3) có nhiệt độ trung bình quanh mức 15°C. Xu thế lạnh sâu xuất hiện rõ vào các năm 2008 và 2010 khi thời gian có nhiệt độ thấp kéo dài sang tận tháng 4. Chế độ mưa tập trung 75–80% vào mùa mưa (tháng 5–10) với những ngày mưa cực đoan lên tới 100 mm/ngày, trong khi mùa khô thiếu nước cục bộ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Hoạt đã phản ánh thực trạng sản xuất nông nghiệp và diễn biến biến đổi khí hậu tại xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012–2014. Bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), nghiên cứu đã tài liệu hóa hệ thống kiến thức bản địa trong dự báo thời tiết và canh tác nông - lâm nghiệp của đồng bào các dân tộc thiểu số. Kết quả thực nghiệm với 3 mô hình cây trồng (khoai tây vụ đông chịu rét, dưa lê chịu hạn và chuối tây xen gừng ta trên đất dốc) chứng minh tính khả thi của việc kết hợp tri thức truyền thống với kỹ thuật nông nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai, bảo vệ môi trường đất dốc và nâng cao sinh kế nông hộ vùng cao.