Chương 1 gồm 45 trang, trình bày về tổng quan nghiên cứu và những vấn đề có liên quan. Chương 2 gồm 30 trang, trình bày các kết quả về khả năng áp dụng, mô hình EA lý thuyết đề xuất để phát triển EA trong các trường đại học khối Sư phạm. Chương 3 gồm 30 trang, trình bày các kết quả thực 2 nghiệm tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngoài ra, phần phụ lục có 45 trang, bao gồm các bảng hỏi, các kết quả phân tích dữ liệu, các biểu mẫu, sơ đồ quy trình nghiệp vụ và mô tả cấu trúc APIs ở lớp dịch vụ và danh mục các hệ thống thông tin cần thiết của các trường đại học khối Sư phạm Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại hiện nay, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT có ảnh hưởng một cách toàn diện tới mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. Có thể nói, CNTT cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại. Việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các tổ chức (bao gồm cả trường đại học), nhằm phát triển Chính phủ điện tử (e- Government), Văn phòng điện tử (e-Office), Đại học điện tử (e-University) và Doanh nghiệp điện tử (e-Business) đã trở thành một xu thế tất yếu trong nhiều quốc gia. Gần đây, EA (Enterprise Architechture) được coi là một công cụ chiến lược để xác định cấu trúc tổng thể và hoạt động của một tổ chức.
EA bao gồm nhiều góc nhìn như kinh doanh, ứng dụng, thông tin và công nghệ, giúp các tổ chức hiểu về trạng thái hiện tại của mình và thúc đẩy mô hình CNTT mong muốn trong tương lai. Gartner dự đoán sau năm 2021, kiến trúc tổng thể sẽ giúp các tổ chức lập kế hoạch và thiết kế đổi mới công nghệ hướng tới dịch vụ số và gia tăng trải nghiệm của khách hàng (Gartner, 2021). Do đó, EA giúp các nhà lãnh đạo và quản lý công nghệ thông tin ra quyết định nhằm đạt được các giải pháp công nghệ mong muốn, loại bỏ sự trùng lặp của các ứng dụng và quy trình, cho phép khả năng tương tác và cải thiện sự phối hợp giữa kinh doanh và công nghệ thông tin. Tại Việt Nam, việc áp dụng EA đang trở thành một xu hướng quan trọng trong quản lý và phát triển tổ chức.
Chính phủ đã giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện tử 1.0 năm 2016 và phiên bản 2. Đây là cơ sở để các Cơ quan, tổ chức xây dựng khung kiến trúc tổng thể của riêng mình, điển hình như: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015); Bộ Nội vụ (2018), Bộ Tài chính (2020), Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Đại học Quốc gia Hà Nội (2022). EA cung cấp một phương pháp toàn diện để định rõ cấu trúc tổ chức và mô hình hoạt động của hệ thống thông tin, từ đó giúp tăng cường hiệu quả và khả năng thích ứng của tổ chức với sự biến đổi trong môi trường nghiệp vụ (Nguyễn Việt Ái, 2013). Việc áp dụng EA trong các tổ chức đem lại nhiều lợi ích quan trọng: Đầu tiên, EA giúp định hình và tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ, từ đó giảm thiểu sự lãng phí và tăng cường hiệu suất làm việc; Thứ hai, EA giúp đảm bảo tính tương thích và tương 3 tác giữa các hệ thống và ứng dụng trong tổ chức, từ đó tạo ra sự linh hoạt và khả năng chia sẻ thông tin hiệu quả; Thứ ba, EA giúp tạo ra một môi trường CNTT ổn định và bảo mật, từ đó giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn thông tin.
Trường đại học là tổ chức nghiên cứu học thuật thuộc nhiều lĩnh vực khoa học và giáo dục chuyên nghiệp bậc đại học, theo Luật Giáo dục đại học năm 2018 thì trường đại học ở Việt Nam là cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo trình độ đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng. Trong trường đại học có các đơn vị thuộc, trực thuộc và các trường thành viên thực hiện các chức năng quản lý, hỗ trợ và thực hiện đào tạo. Trường đại học có quyền tự chủ xác định mục tiêu, cách thức quản lý riêng, tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật. Ở Việt Nam bao gồm khối các trường đại học công lập và khối các trường đại học ngoài công lập được tổ chức gồm hai mô hình Đại học và Trường đại học.
Phạm vi của luận án này chỉ nghiên cứu trên các Trường đại học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý của các trường đại học đã có nhiều kết quả tốt, tuy nhiên cũng đang gặp nhiều trở ngại như: hiện tượng “cát cứ” thông tin bên trong nội bộ, thiếu khả năng tích hợp hệ thống và liên kết thông tin tổng hợp báo cáo hỗ trợ ra quyết định, nhiều nền tảng phần mềm khác nhau, mỗi phần mềm quản lý một lĩnh vực riêng, chưa xây dựng được một cơ sở dữ liệu dung chung, quy trình xử lý nghiệp vụ còn nhiều tính thủ công và chưa chia sẻ được tài nguyên cho nhau. Hơn nữa, xây dựng đại học số là xu thế tất yếu của các trường đại học Việt Nam. Đại học số cũng là bước chuyển mình để đại học Việt Nam tiệm cận với giáo dục đại học trên thế giới.
Tuy nhiên nhiều chuyên gia thừa nhận xây dựng đại học số tại nước ta còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, kinh phí, hay chưa có nguyên mẫu. Trong khi đó, các nước trên thế giới đã sử dụng EA làm cơ sở nền tảng trong việc chuyển đổi số và xây dựng đại học số (Rozoa và cộng sự, 2020). EA giúp các trường đại học xây dựng mô hình tổ chức, quy trình nghiệp vụ và hệ thống thông tin đáp ứng nhu cầu đào tạo và nâng cao công tác quản lý điều hành nhà trường. Áp dụng EA trong các trường đại học mang lại nhiều lợi ích, bao gồm tăng cường hiệu suất quản lý, cải thiện trải nghiệm học tập cho sinh viên, nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng xu hướng phát triển trong giáo dục (Tô Hồng Nam, 2022).
Việc thúc đẩy áp dụng EA trong giáo dục đại học là một hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và đóng góp vào sự phát triển bền vững của giáo dục đại học Việt Nam. 4 Các trường đại học Sư phạm ở Việt Nam thuộc khối các trường đại học công lập, có nhiệm vụ đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện của giáo dục Việt Nam. Xây dựng mối liên kết trách nhiệm giữa trường Sư phạm và trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng then chốt trong quá trình trong đào tạo nghề cho sinh viên Sư phạm và bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ nhà giáo nước nhà. Trường phổ thông là nơi giúp sinh viên có cơ hội để hiểu biết thực tế nhà trường nơi mà họ sẽ làm việc sau khi tốt nghiệp; nơi sinh viên vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào trong chính hành động của bản thân; nơi mang lại cho sinh viên những hiểu biết về thực tiễn và gắn địa phương với bối cảnh cụ thể.
Trong bối cảnh hiện nay, trường đại học Sư phạm hỗ trợ các trường phổ thông trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. UNESCO khuyến cáo: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức”; Hội nghị Paris về giáo dục đưa ra quan niệm “nhà giáo mới” ở đại học: “Phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin và truyền thông mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý cho một sự thay đổi cơ bản về vai trò của họ”. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng trong lĩnh vực giáo dục, quá trình quốc tế hóa, giảm tài trợ từ chính phủ, sự xuất hiện của công nghệ giáo dục mới và những yêu cầu mới về đảm bảo chất lượng giáo dục thì việc phát triển hệ thống thông tin tổng thể (EIS) để hỗ trợ quản lý trong các trường đại học Sư phạm trở nên cấp bách hơn. Tuy nhiên từ kết quả khảo sát năm 2018 cho thấy, có 89% đơn vị triển khai phần mềm quản lý đào tạo, 53% số đơn vị sử dụng phần mềm quản lý nhân sự, 53% số đơn vị áp dụng, các hệ thống thi trắc nghiệm (55%), hệ thống học liệu số (55%) đơn vị ứng dụng.
71% ứng dụng phần mềm quản lý điều hành, công văn đi đến, 44% số đơn vị triển khai hệ thống quản lý điều hành văn bản điện tử (e- office), nhìn chung có nhiều hệ thống thông tin trong các trường đại học này chưa đạt được các mục tiêu của tổ chức do thiết kế hệ thống không tốt, thiếu tính nhất quán và khả năng mở rộng, chưa gắn kết với các mục tiêu chiến lược của nhà trường. Ngoài ra, sau đại dịch COVID-19, việc UDCNTT trong lĩnh vực giáo dục vào đào tạo được đạt được nhiều kết quả quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về Giáo dục đại học (GDĐH) phục vụ kiểm định, đánh giá, quản lý, giám sát và đáp ứng nhu cầu thông tin cho cá nhân, tổ chức có liên quan. Theo đó, mô hình tổng thể được đề xuất gồm có 12 CSDL thành phần, bao gồm: Cơ sở đào tạo, Ngành đào tạo, Chương trình đào tạo, Tuyển sinh, Đội ngũ cán bộ giảng viên, Người học, Văn bằng, Cơ sở vật chất, Tài chính - đầu tư, Nghiên cứu khoa học, Hợp tác quốc tế, Hợp tác doanh nghiệp.
Vì vậy, các trường đại học Sư phạm có vai trò quan trọng trong việc tích hợp hệ thống thông tin, kết nối với cơ sở 5 dữ liệu Quốc gia về đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên phổ thông để dự báo, đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo nước nhà là việc làm cần thiết. Vì những lý do và bối cảnh trên, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình kiến trúc tổng thể cho các trường đại học khối Sư phạm Việt Nam” để thực hiện nghiên cứu và học nghiên cứu sinh tại Viện đào tạo Sau đại học, Viện Công nghệ thông tin và Kinh tế số của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.