phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng dạy học môn Tin học quản lý theo hƣớng tích cực hoá ngƣời học Chƣơng 2: Khảo sát thực trạng chất lƣợng dạy học môn Tin học quản lý tại Trƣờng Đại học Tây Đô Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng dạy học, và thực nghiệm sƣ phạm để đánh giá hiệu quả của phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực hoá ngƣời học môn THQL 5 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC QUẢN LÝ THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HOÁ NGƢỜI HỌC 1. Các Khái niệm liên quan 1. Chất lƣợng Chất lƣợng là một khái niệm trừu tƣợng và khó định nghĩa, thậm chí khó nắm bắt. Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà Giáo dục, chất lƣợng đƣợc định nghĩa nhƣ tập hợp các thuộc tính khác nhau: - Chất lƣợng là sự xuất sắc (quality as excellence) - Chất lƣợng là sự hoàn hảo (quality as perfection) - Chất lƣợng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose) - Chất lƣợng là sự đáng giá với đồng tiền (quality as value for money) - Chất lƣợng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation) 1.
Chất lƣợng giáo dục Nói đến chất lƣợng giáo dục là nói đến khía cạnh phẩm chất, và phẩm chất là một điều khó định nghĩa nhất, và cũng không thể “ cân, đo, đong, đếm” rạch ròi nhƣ các biến định lƣợng khác. Theo tôi, giáo dục đại học bao gồm dạy, nghiên cứu khoa học, và học. Do đó, chất lƣợng giáo dục phải bắt đầu từ ngƣời thầy và 6 Luan van kết thúc ở ngƣời trò, qua hỗ trợ của cở sở vật chất kể cả thƣ viện và công nghệ thông tin. Bởi vì “sản phẩm” của đào tạo của giáo dục đại học là con ngƣời với kiến thức chuyên môn cao, cho nên nói đến chất lƣợng giáo dục đại học là nói đến chất lƣợng sinh viên tốt nghiệp.
Nhƣng vấn đề này lại rất ít đƣợc đề cập đến trong các hội thảo về chất lƣợng giáo dục. Vậy thì khi nói đến chất lƣợng sinh viên tốt nghiệp là nói đến cái gì? Nói tóm gọn, chất lƣợng ở đây bao gồm hai khía cạnh: tầm và tâm. Ở các nƣớc phƣơng Tây, ngƣời ta khai triển hai khía cạnh tầm và tâm thành 4 tiêu chí: kiến thức chuyên môn, kiến thức tổng quát, kĩ năng đặt và giải quyết vấn đề, và nhân cách. Kiến thức chuyên môn: tùy thuộc vào chuyên ngành mà sinh viên theo học.
Chẳng hạn nhƣ sinh viên tốt nghiệp ngành y khoa phải có kiến thức về các lĩnh vực nhƣ cơ thể học, bệnh lí học, dịch tễ học, sinh hóa, v.v… Tuy nhiên, các kiến thức này đã qua thẩm định bằng những kì thi nghiêm chỉnh; chỉ khi nào sinh viên đỗ tất cả các bộ môn theo học thì mới đƣợc tốt nghiệp. Kiến thức tổng quát: bao gồm kiến thức về xã hội (kể cả văn học, triết học, văn hóa, và lịch sử), nhận thức về các vấn đề ở tầm quốc gia và thế giới, thông thạo kĩ thuật vi tính, tiếng Anh, trách nhiệm cộng đồng, v.v… Người tốt nghiệp đại học chẳng những phải có kiến thức tổng quát, mà còn phải có khả năng phân tích và thẩm định thông tin một cách khoa học và logic. Kỹ năng đặt và giải quyết vấn đề: bao gồm khả năng phát hiện (problem finding) và giải quyết vấn đề (problem solving). Có thể nói rằng xã hội Tây phƣơng là xã hội hƣớng về vấn đề, và họ huấn luyện cho học sinh cũng nhƣ sinh viên đến nỗi nhìn đâu cũng thấy vấn đề! Từ phát hiện vấn đề và cộng với kiến thức tiếp cận, ngƣời sinh viên có sự tự tin và sáng tạo, không nhất thiết phải đi theo những lối suy nghĩ cũ hay theo đƣờng mòn của ngƣời trƣớc, không làm theo sách vở một cách máy móc.
7 Luan van Tiêu chí nhân cách: là tiêu chí rất quan trọng, vì chúng ta không chỉ đào tạo ra những chuyên gia mà lại thiếu đi nhân cách. Tiêu chí này không lạ gì với Việt Nam, vì cụ Nguyễn Du từng viết “ chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài ”. Nhân cách bao gồm đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, trung thực, có tinh thần trách nhiệm cao với xã hội, tôn trọng sự khác biệt, và kĩ năng làm việc trong một nhóm. Vì vậy có thể nói, chất lƣợng giáo dục trƣớc tiên thể hiện ở kết quả học tập của học sinh, tiếp đến chất lƣợng giáo dục thể hiện qua năng lực thực tiễn của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trƣờng, khi họ tham gia lao động sản xuất và sử dụng kiến thức, kỹ năng, từ những gì mình đã học để giải quyết công việc của mình.
Một số tiêu chí đánh giá chât lƣợng dạy học nhƣ sau: Kiến thức của chƣơng trình môn học Kỹ năng, kỹ xảo hình thành trên cơ sơ kiến thức đó Thái độ niềm tin hình thành ở ngƣời học Năng lực hành nghề Khả năng thích ứng thị trƣờng và thăng tiến nghề nghiệp. Nâng cao chất lƣợng dạy học Chất lƣợng dạy học đƣợc đánh giá trực tiếp thông qua kết quả học tập của học sinh. Tuy nhiên nó cũng có thể đƣợc đánh giá gián tiếp qua: cơ sở vật chất hiện có của nhà trƣờng, trình độ cũng nhƣ năng lực của đội ngũ cán bộ giảng viên, quá trình dạy- học của thầy và trò, phƣơng pháp dạy học của giáo viên và phƣơng tiện dạy học để chuyển tải nội dung học tập đến học sinh, và cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá để xem kết quả đạt đƣợc của học sinh có nhƣ mong muốn của mục tiêu dạy học đề ra. Khi nâng cao chất lƣợng dạy học nghĩa là nâng cao kết quả học tập của ngƣời học.
Để nhận đƣợc kết quả học tập tốt ở ngƣời học, chúng ta cần nâng cao chất lƣợng của các yếu tố cụ thể sau: 8 Luan van Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý Chất lƣợng đầu vào Mục tiêu và nội dung bài giảng từng bài học cụ thể các môn học Phƣơng pháp dạy học Kiểm tra đánh giá thành quả của học sinh Cơ sở hạ tầng, phƣơng tiện, trang thiết bị phục vụ cho việc ăn ở, học tập giảng dạy. Phƣơng pháp Phƣơng pháp là cách thức, con đƣờng để đạt tới mục tiêu nhất định, giải quyết những nhiệm vụ nhất định. Xuất phát từ mục tiêu để tìm ra phƣơng pháp hành động. Mục tiêu nào thì phƣơng pháp nấy, phƣơng pháp giúp con ngƣời thực hiện đƣợc mục tiêu của mình: nhận thức thế giới và cải tạo thế giới và qua đó tự cải tạo mình.
Phƣơng pháp dạy học Theo Nguyễn Ngọc Quang:” Phƣơng pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò dƣới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lục nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa hoc…” Phƣơng pháp là cách thức, là con đƣờng, là phƣơng hƣớng hành động để giải quyết các vấn đề của học sinh nhằm đạt đƣợc mục tiêu dạy học. Phƣơng pháp dạy học tích cực hoá 1. Phƣơng pháp dạy học tích cực Phƣơng pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, đƣợc dùng ở nhiều nƣớc để chỉ những phƣơng pháp giáo dục, dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học. "Tích cực" trong PPDH - tích cực đƣợc dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt 9 Luan van động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời dạy, tuy nhiên để dạy học theo phƣơng pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phƣơng pháp thụ động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, nhƣng ngƣợc lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hƣởng tới cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trƣờng hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhƣng giáo viên chƣa đáp ứng đƣợc, hoặc có trƣờng hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhƣng không thành công vì học sinh chƣa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động.
Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phƣơng pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phƣơng pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Nhƣ vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động". Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nƣớc ngoài và trong nƣớc, một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thƣờng nói tới việc cần thiết phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tƣơng đƣơng nhƣ: dạy học tập trung vào ngƣời học, dạy học căn cứ vào ngƣời học, dạy học 10 Luan van hƣớng vào ngƣời học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên. Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trƣờng một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tƣơng đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt". Giáo viên quan tâm trƣớc hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chƣơng trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng.