Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật Chương II: Khối u Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và một số rối loạn liên quan cơ che miễn dịch Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dường và chuyển hóa Chương V: Rối loại tâm thần và hành vi Chương VI: Bệnh hệ thần kinh Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn Chương X: Bệnh hệ hô hấp Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa Chương XII: Bệnh da và mô dưới da Chương XIII: Bệnh hệ cơ xương khớp và mô liên kết Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ 7 Chương XVI: Một sổ bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh Chương XVII: DỊ tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm sắc thể Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi ChuơngXIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong Chương XXI: Yếu tổ ảnh hưởng tình trang sức khỏe và việc tiếp xúc với cơ quan y tế So với bảng phân loại bệnh ICD - 9 bảng ICD - 10 có sự thay đổi về cấu trúc, bố cục[52], đã bố sung một số chi tiết và cụ thể hóa hơn trong một số chương bệnh như trong chương bệnh của cơ quan tạo máu (chương III) có thêm bệnh liên quan đến miễn dịch. Bệnh giác quan được tách ra khỏi chương bệnh thần kinh và thành hai chương bệnh là chương bệnh tai - xương chũm (chương VIII), chương bệnh mắt và phần phụ của mắt (chương VII). Trong chương bệnh cơ xương khớp (chương XIII) có thêm bệnh mô liên kết. Trong chương bệnh dị tật bẩm sinh (chương XVII) có thêm bệnh biến dạng bất thường nhiễm sắc thể.
Không còn chương bệnh triệu chứng khó xác định, thay vào đó là chương bệnh: các triệu chứng, dấu hiệu bất thường phát hiện qua lâm sàng và xét nghiệm (chương XVIII). Thêm hai chương bệnh là: Chương nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật tử vong (chương XX) và chương các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe (chương XXI)[12, 34, 37]. Bộ mã của ICD-10 được quy định: - Ký tự thứ nhất (chữ cái) mã hóa chương bệnh. - Ký tự thứ 2 (chừ sổ thứ nhất) mã hóa nhóm bệnh.
- Ký tự thứ 3 (chừ số thứ hai) mã hóa tên bệnh. - Ký tự thứ 7 (chừ sổ thứ ba sau dấu chấm (.) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của một bệnh. 8 Tuy nhiên, vì một số lí do về phương diện thống kê, tính chuẩn xác trong chẩn đoán và để ứng dụng trên phạm vi cả nước, Bộ Y te có hướng dẫn sử dụng tạm thời sử dụng bộ mã 3 ký tự tức là chỉ mã hóa đến tên bệnh trên hệ thống y tế của Việt Nam và Bệnh viện 198 đang sử dụng bộ mã 3 ký tự này để mã hóa bệnh tật. Càng những năm cuối cùa thể kỷ XX sự bùng nổ của công nghệ gen, công nghệ miễn dịch học, nhiều kỹ thuật chẩn đoán cao được áp dụng như: Cộng hưởng từ, kính hiển vi điện tử V.
cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, đã ảnh hường không ít tới đặc điểm bệnh tật, xuất hiện thêm một số bệnh mới do trước kia chưa có hoặc trước kia chưa tìm ra[12, 34,37], 1. Nghiên cứu về mô hình bệnh tật trên thế giói và Việt Nam 1. Nghiên cứu mô hỉnh bệnh tật trên thế giới về mô hình sức khoẻ trên thế giới được chia làm 3 hình thái như sau[34]: - Các nước chậm phát triển hình thái A: Bệnh truyền nhiễm cao, bệnh mạn tính, không truyền nhiễm thấp. - Các nước đang phát triển hình thái B: bệnh truyền nhiễm giảm nhưng vẫn còn cao, bệnh mạn tính, không truyền nhiễm tăng cao.
- Các nước đã phát triển hình thái C: Bệnh không truyền nhiễm như tim mạch, tiểu đường, bệnh lý người già là chủ yếu. bệnh truyền nhiễm rất ít. Đặc điểm bệnh tật ở các nước đã phát triển là bệnh tật chủ yếu rơi vào nhóm tuổi đã qua lao động, chủ yếu là người già, tình trạng thiếu dinh dưỡng không phải là vấn đề quan trọng. Các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng có tỳ lệ rẩt ít trong cộng đồng, ngược lại bệnh thoái hoá, ung thư lại là vấn đề quan trọng hàng đầu.
Ở các nước phát triển, bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, ung thư là các bệnh có tỷ lệ tử vong hàng đầu. Trong khi đó, ờ các nước đang phát triển bệnh tật chủ yếu với các nhóm tuổi còn rất trẻ, đang trong độ tuổi lao động sản xuất. Tình trạng thiếu dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao là vẩn đề sức khoẻ của các quốc gia. Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh trùng chiếm tỷ 9 lệ lớn trong cộng đồng trong khi đó các bệnh thoái hoá, ác tính lại có tỷ lệ thấp hơn[55].1: Mô hình bệnh tật thế giới năm 1990[37] các nước đang các nước phát MHBT chung Các loại bệnh phát triển toàn thế giói triển Bệnh nhiễm trùng 41,2% 5,3% 33,4% Bệnh không nhiễm trùng 50,0% 87,3% 58,1% TNTT 8,8% 7.4% 8,5% Tổng cộng 100% 100% 100% Ở Brunei, một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới và đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới, trong mười bệnh hàng đầu hay gặp, chỉ có một bệnh nhiễm khuẩn là nhiễm khuẩn đường hô hấp.
còn lại chủ yếu là bệnh tim mạch, đái đường, hen. Ngược lại ở Cam Pu Chia, một đất nước còn nghèo, các bệnh thường gặp là sốt rét, lao, tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn hô hấp cấp.là các bệnh lây truyền phổ biến ở các nước đang phát triển[34]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 1998 tại một số nước khu vực sông Mê kông thì tại Vân nam, Trung Quốc có 38.000 người, thì có số ký sinh trùng sốt rét là 12.900 người, thì có số ký sinh trùng sốt rét là 7.000 người, thì có sổ ký sinh trùng sốt rét là 72. Điều này cho thấy trong những năm qua chúng ta thực hiện phòng chống sốt rét tương đổi có hiệu quả[32].
Thống kê Y tế Lào năm 2005 trong 10 bệnh phổ biến nhất thì bệnh nhiếm trùng chiếm 6 bệnh, trong đó 5 bệnh đứng hàng đầu: viêm phổi, viêm họng và amidal, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, ia chảy, viêm dạ dày, ruột có nguồn gốc nhiễm khuân, cúm. Tình hình này khá giống mô hình bệnh tật của Việt Nam[34]. Tại Canada thống kê gánh nặng bệnh tật tại bang Ontario từ 1990-1995 cho thấy tai nạn thương tích đứng hàng đầu, tiếp theo là ung thư. Ket quả này cũng tương tự như 10 nghiên cứu ở Australia của Harrison J và báo cáo của Viện nghiên cứu sức khỏe, tai nạn thương tích vẫn đứng hàng đầu, tiếp theo là ung thư, tim mạch.
Ket quả điều tra của WHO công bổ năm 1991 cho thấy sau 10 gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích gày ra tăng nhanh ở các nước phát triển. Ở hầu hết các nước tai nạn thương tích đều chiếm tỳ lệ cao trong gánh nặng bệnh tật do chết non[32]. Báo cáo WHO năm 1995 nhận định về sức khoẻ thể giới như sau: Nguyên nhân chính gây bệnh cao nhất là tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi, kể cả lỵ là 1,8 tỷ ca/năm, tiếp đến là nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới với 248 triệu ca/năm. về tử vong nguyên nhân chính là bệnh tim mạch, thiếu máu cục bộ với 4,2 triệu ca/năm, nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới ở trẻ em dưới 5 tuổi là 4,1 triệu ca/năm, bệnh mạch máu não 3,8 triệu ca/năm.
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 2,8 triệu ca/năm, lao là 2,7 triệu ca/năm, sốt rét là 2 triệu ca/năm[32] Cho đến nay bệnh lao vẫn là vẩn đề khẩn cấp toàn cầu. Tỷ lệ mắc lao có sự chêch lệch lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển, giữa Tây Âu, Bắc Mỹ và các nước còn lại. Đầu những năm 1980 ở các nước phát triển tỷ lệ nhiễm lao ở lứa tuổi 14 là 1 - 5%, một sổ nước <1%. số mới mắc là 10 - 20%/l00.000 dân và đa số là người lớn, ở các nước này tỷ lệ giảm đến 14% mỗi năm.
Ờ các nước đang phát triển nguy cơ nhiễm lao đang có chiều hướng giảm dần tuy không nhiều, đa so là giảm ít hoặc không giảm. Ước lượng về nguy cơ nhiễm lao và số lượng giảm hàng năm Châu Á nguy cơ là 1- 2%, mức độ giảm 2-5%[32]. Theo các số liệu thống kê cứ 1 giây lại có 1 người mới bị nhiễm lao; hiện có 1,7 tỷ người nhiễm lao trên thế giới; hàng năm có khoảng 3 triệu người chết vì bệnh lao. Các bệnh tim mạch quan trọng nhất là thiếu máu và nhồi máu cơ tim, thấp tim.
tăng huyết áp và đột quỵ. Những yếu tố nguy cơ quan trọng là lối sống không lành mạnh, khẩu phần ăn nhiều chất béo động vật, hút thuốc lá, ít vận động thể lực và cao tuổi. Ờ các nước công nghiệp hóa, có khoảng 30 cái chết đột ngột do tim mỗi tuần, ở các nước chưa công nghiệp hóa thì tình trạng đó lại khác, một nghiên cứu ở Bắc Kinh, 11 Trung Quốc tỷ lệ đó là < 1,5/mỗi tuần cho 01 triệu dân. Tăng huyết áp đóng vai trò bệnh căn chính trong bệnh mạch máu, bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ, suy tim, suy thận.
Đột qụy hay gây tai biến mạch máu não, là nguyên nhân gây tàn phế nghiêm trọng và là gánh nặng cho toàn xã hội[32]. Bệnh ung thư đang gia tăng toàn cầu, ung thư là nguyên nhân gây chết người thứ hai sau bệnh tim mạch, chỉ tính riêng ung thư phổi và ung thư phế quản đã là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 10. Trên toàn thể giới tỷ lệ chết do ung thư tính trên 1000 dân vào năm 2015 khoảng 12% dân số thế giới, năm 2030 chiếm khoảng 13% dân sổ thế giới; số người mắc ung thư nam giới hay mắc ung thư: gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng.Nữ hay mắc ung thư: cổ tử cung, vú, dạ dày, phổi, đại trực tràng[32]. Gánh nặng của ung thư được tiên đoán là sẽ gia tăng trong vài thập kỷ tới, trong khi chúng ta chưa tìm được các biện pháp điều trị hữu hiệu.
Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trong nước Tinh hình bệnh tật ờ Việt Nam có liên quan chặt chẽ với địa lý khí hậu và các yếu tố kinh tế.