Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Mô hình bệnh tật, tử vong 1. Khái niệm về mô hình bệnh tật, tử vong Mô hình bệnh tật, tử vong là tỷ lệ các nhóm bệnh tật và lử vong của một khu vực địa lý nhất định trong một giai đoạn thời gian cụ thể. Từ mô hình bệnh tật, tử vong người ta có thê xác định được các bệnh tật phổ biển nhất, các bệnh có tử vong nhiều nhất, giúp cho định hướng chiến lược về y tế cũng như xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trong từng khu vực cụ thể[4].
Lịch sử về bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD-ỈO) Năm 1785 William Cullen xuất bản cuốn Sơ yếu về phương pháp phân loại bệnh. Năm 1853 William Farr và Marc D’Espine đề nghị sứ dụng bảng phân loại thống nhất về nguyên nhân tử vong, đến 1855 đề nghị được Hội nghị tại Paris chấp thuận, bảng phân loại này gồm 139 tiêu đề, sau đó được bổ sung nhiều lần vào những năm 1864, 1874, 1880, 1886 tại Paris, nhưng vẫn chưa được chấp thuận rộng rãi. Năm 1893 tại Chicago, Jacque Bertillion và L. Guillaume đưa ra 3 bảng phân loại, gồm 304 tiêu đề, được chấp thuận rộng rãi hơn.
Năm 1898 Hội nghị Ottawa (Canada) thống nhất đề nghị cứ 10 năm họp chinh lý một lần vì như thế mới đủ thời gian chuẩn bị cho mỗi lần họp. Tuy nhiên, vào nãm 1900, chính phủ Pháp đã đứng ra tồ chức Hội nghị tại Paris với sự tham gia của 26 nước. Hội nghị này được xem là Hội nghị quốc tế lần thứ nhất, chỉnh lý bàng danh sách quốc tế về nguyên nhân tử vong. Hội nghị đã đưa ra một bảng phân loại chi tiết nguyên nhân tứ vong, gồm 179 tiêu đề.
Năm 1909 tiến hành chỉnh lý Bảng danh sách phân loại bệnh tật và Bảng phân loại nguyên nhân tử vong và đến năm 1910 xuất bản dưới tên Bàng phân loại quốc tế về nguyên nhân bệnh và tử vong. Năm 1920, tại Pháp, Hội nghị lần thứ haì tiếp tục sửa đối một số nội dung trong bảng danh sách tù vong. Năm 1929, Michel Huber vận động Viện thống kê quốc tế và Tổ chức y tế thuộc Liên đoàn các nước phối hợp tổ chức Hội nghị chỉnh lý bảng danh sách quốc tế nguyên nhân tử vong (lần thứ ba), năm 1938 (lần thử tư) và tháng 10 năm 1938 (lần thứ năm) tại Paris, Hội nghị đưa ra Bảng danh sách chi tiết có 200 tiêu đề. Đẻ thuận lợi cho thống kê bệnh tật, thông tin quốc tế, 4 việc mã hóa bắt đầu nêu lên trong các phiên họp vào năm 1944, cẩm nang mã hóa nguyên nhân bệnh, mã hóa chấn đoán dùng cho thống kê bệnh tật đã được xuất bản tại Mỹ.
Năm 1948, WHO triệu tập Hội nghị lần thứ sáu tại Geneva, thống nhất mẫu Y chứng về nguyên nhân tử vong và cẩm nang phân loại thống kê quốc tế về bệnh, thương tích và nguyên nhân tử vong. Với những nồ lực của các chuyên gia và các tổ chức y tế thế giới, với lợi ích đạt được trên phương diện chăm sóc sức khỏe và kiểm soát bệnh tật, việc áp dụng ICD ngày càng trở nên phổ biến. Đồng thời sự phát triển của các phương tiện, kỹ thuật chẩn đoán y học, việc chẩn đoán bệnh ngày càng chính xác và đặc hiệu hơn. Những yếu tố đó đã thúc đẩy ICD phát triên không ngừng, Chính vì thế tại Hội nghị lần thứ 9 năm 1975 ICD có thêm các danh sách phụ và được mã hóa đến 4 ký tự, riêng phần chuyên khoa sử dụng đến 5 ký tự.
Năm 1989, tại Hội nghị lần thứ 10 ở Geneva, các chuyên viên của WHO đã đưa ra Bảng phân loại ICD đáp ứng được yêu cầu thống kê một cách đầy đủ hơn và tiện dụng hơn. Bảng phân loại ICD-10 được chia thành 21 chương, mỗi chương gồm một hay nhiều bệnh có liên quan. Để có thể sử dụng thống nhất trên toàn thế giới, độc lập với vấn đề ngôn ngữ và gọn nhẹ trong lưu trữ, dễ dàng trong thống kê, phân tích dịch tễ, ICD-10 được mã hoá theo một bộ mã gồm 4 ký tự và có thể thu gọn với 3 ký tự hoặc mở rộng thành 5,6 ký tự. Đe đảm bảo sự chính xác của các kểt quả thống kê được thực hiện trên một quy mô lớn như quốc gia, thành phố.
mà ở đó còn nhiều cơ sở y tế thiếu điều kiện để có thể có được một chẩn đoán xác định, Tổ chức y tế thế giới thống nhất sử dụng bộ mã ba ký tự trong các báo cáo quốc tế. Bộ Y tế quy định thống kê và phân loại đển tên bệnh, nghĩa là tạm sử dụng bộ mã 3 ký tự, gồm 312 nhóm bệnh và bệnh thường gập ở Việt Nam. Các yếu tố tác động đến mô hình bệnh tật, tử vong Người ta đã chia các yếu tố tác động đến mô hình bệnh tật, tử vong thành những yếu tố có thế biến đổi được và những yếu tổ không thể biến đồi được. Những yểu tố không the biến đổi được, gồm: tuổi, giới tính, yếu tố di truyền.
Những yếu tố có thể biến 5 đổi được, gồm: Các yếu tố về xã hội: hoà bình, ồn định chính trị, phát triển kinh tế và công bằng; Các yếu tố về nhu cầu cơ bản: khẩu phần ăn, nước sạch, nhà cửa, y tế, giáo dục; Các yếu tố thuộc về lối sống: thuốc lá, rượu, tình dục, ma tuý, lạm dụng thuốc và các mạng lưới xã hội. Một so đặc điểm về mô hình bệnh tật, tử vong 1. Trên Thế giới Mô hình bệnh tật, tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước, gồm 3 hình thái như sau[2]. Mô hình bệnh tật, tử vong ở các nước chậm phát triển: bệnh nhiễm trùng cao, bệnh mạn tính không nhiễm trùng thấp; Mô hình bệnh tật, tử vong ở các nước đang phát triền: bệnh nhiễm trùng thấp, bệnh mạn tính không nhiễm trùng là chủ yếu; Mô hình bệnh tật, tử vong ở các nước phát triến: bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh lý người già là chú yếu.
Mặc dầu về cơ bản mô hình bệnh tật. tử vong có đặc thù của từng nước, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong cùng một quốc gia thì điều kiện kinh tể, xã hội, địa lý, khí hậu của từng vùng; miền thường không đồng nhất, nên mô hình bệnh tật, tử vong cũng có khác nhau. Vì thế, nghiên cứu mô hình bệnh tật, tử vong cũng cần phân tầng theo khu vực vùng, miền để tìm hiêu tính đặc thù của chúng.
Ó Thái Lan, bệnh mắc nhiều nhất là tai nạn chấn thương, tai biến sản khoa, bệnh về mắt, bệnh về tiêu hóa. Mô hình bệnh tật ở Malaysia (1996): đẻ thường 19,84%, tai biến sản khoa 12,57%, tai nạn 10.98%, bệnh tim mạch 6,94%, bệnh hô hấp 6,11%; nguyên nhân từ vong: bệnh tim mạch 16,39%, tai nạn 10,14%, thai chu sinh 10,08%. Ở Austraylia, nguyên nhân tử vong cao nhất là tim mạch (nam 41,22%, nữ 44,2%), tiếp đó là bệnh ung thư (nam 28,2%, nữ 27%), hô hấp (nam 8,9%, nữ 7%), thương tích (nam 6. Ớ Mỹ (1997), nguyên nhân tử vong hàng đầu là bệnh tim, ung thư và đột quỵ.
Ở Philippines năm 2002, mười nguyên nhân gây bệnh hàng đầu thì các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu, chiếm 8 trên tổng số 10 bệnh. Đứng đầu là các bệnh viêm phổi, tiêu chảy, viêm phế quản/tiêu phế quản, cúm; bệnh cao huyết áp đứng thứ 5 và bệnh tim mạch 6 đứng thứ 7 (bảng 1. Như vậy, mô hình bệnh tật ở Philippines giống mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển với nhóm bệnh lây là chù yếu. Tuy nhiên, mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Philippines thì chu yếu là bệnh không lây, chiếm 8 trên tống số 10 nguyên nhân: đứng hàng đầu nhóm bệnh không lây gồm các bệnh tim, bệnh mạch máu, u ác tính; nhóm bệnh lây chỉ có bệnh lao.
Ở Việt Nam Mô hỉnh bệnh tật ở Việt Nam hiện nay song song tồn tại 2 loại bệnh, đó là các bệnh nhiễm vi trùng, siêu vi, ký sinh trùng (gọi tắt là bệnh nhiễm trùng) vẫn chiếm tỷ lệ cao, đồng thời các bệnh không do nhiễm trùng như tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh rối loạn chuyển hóa, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp, các bệnh dị ứng. các tai nạn trong sinh hoạt ngày càng tăng, các bệnh do dinh dưỡng, di chứng do chiến tranh và tật nguyền còn tồn tại nhiều. Mô hình bệnh tật ở Việt Nam liên quan mật thiết với đặc điểm địa lý, khí hậu và vùng kinh tế xã hội. về dịch tễ, một số bệnh thế hiện rất rõ mối liên quan này, bệnh sốt rét nặng nhất ở các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi của các tinh duyên hải miền Trung, bệnh sốt xuất huyết nghiêm trọng nhất ở các tỉnh đồng bàng sông Cửu Long, viêm não Nhật Bản chú yếu ở các tinh phía Bắc, sốt rét thường trầm trọng ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn, dân trí thấp, nhưrig sốt xuất huyết thường bùng nổ ở vùng đông đúc, đô thị và đồng bằng, nơi đời sống kinh tế và dân trí cao[5], [6].
Mô hình bệnh tật, tử vong ở Việt Nam xếp theo chương năm 2001 - 2002. Đơn vị tính: % 2001 2002 Chương Tên bệnh Mắc Chết Mắc Chết I Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật 14,41 13,43 12,56 15,78 II Khói u 1,81 3,04 2,05 2,68 Bệnh máu.