ĐẶT VẤN ĐỀ Sarcôm mô mềm (SMM) là ung thư của mô liên kết ngoài xương trừ mô lymphô, mô thần kinh đệm và mô chống đỡ của các cơ quan. Nó bao gồm các mô cơ, mỡ, mô xơ sợi, mạch máu và thần kinh ngoại vi1. So với các ung thư khác, các SMM tương đối hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1% trong số các ung thư ở người lớn và khoảng 15% các ung thư ở trẻ em2,3. Tuy nhiên, đây là nhóm ung thư có hình thái mô học rất đa dạng, phức tạp, dễ gây nhầm lẫn trong chẩn đoán.
Trong thực tế, các nhà bệnh học gặp rất nhiều khó khăn khi phải chẩn đoán típ mô học của mỗi SMM bởi không những phải phân biệt giữa các típ mô học khác nhau mà còn phải phân biệt SMM với các ung thư khác như u hắc tố, ung thư biểu mô kém biệt hóa, u lymphô bất thục sản…4,5,6. Việc chẩn đoán chính xác típ mô bệnh học (MBH) cũng như dưới típ của SMM có ý nghĩa quan trọng, quyết định thái độ điều trị và dự đoán tiên lượng bệnh5,6,7,8. Trước đây, chẩn đoán typ MBH của SMM chỉ dựa vào kỹ thuật mô học thường qui là nhuộm Hematoxylin Eosin (HE) và một số phương pháp nhuộm đặc biệt. Dưới kính hiển vi (KHV) quang học, dựa vào hình thái của tế bào, cấu trúc của mô u cũng như mô đệm u cho phép các nhà bệnh học chẩn đoán khá chính xác típ MBH cũng như những dưới típ của các sarcôm này, đặc biệt đối với các sarcôm biệt hoá cao.
Tuy nhiên, rất nhiều SMM không biệt hóa, vì vậy, các nhà bệnh học khi đối mặt với các SMM thường phải đưa ra rất nhiều chẩn đoán phân biệt. Ngày nay, nhờ sự trợ giúp của các kỹ thuật hiện đại như hóa mô miễn dịch (HMMD), siêu cấu trúc, di truyền tế bào (DTTB) và sinh học phân tử (SHPT) nên đã cải thiện đáng kể việc chẩn đoán xác định típ MBH của các SMM và nâng cao tính chính xác của chẩn đoán6. Sự ra đời của HMMD là một cuộc cách mạng trong chẩn đoán bệnh học nói chung và trong chẩn đoán SMM nói riêng. Trong thời 2 gian gần đây với sự xuất hiện của nhiều kháng thể (KT) mới có ý nghĩa về mặt phân tử, HMMD càng chứng tỏ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho các nhà bệnh học trong chẩn đoán xác định típ MBH của các SMM 6,9,10.
Cho tới nay, có nhiều bảng phân loại SMM, trong đó phân loại của tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) lần thứ tư về SMM năm 2013 đã nêu bật vai trò của HMMD và SHPT trong phân loại típ MBH các SMM6. Phân loại này cũng bổ sung một số típ MBH thường gặp như u mô đệm dạ dày ruột (Gastrointestinal stroma tumor - GIST), sarcôm xơ bì lồi biến thể sarcôm xơ. Đầu năm 2020, phân loại lần thứ năm của TCYTTG về u mô mềm và xương ra đời, ngoài bổ sung một số typ MBH mới và SHPT, phân loại còn cập nhật thêm một yếu tố có ý nghĩa tiên lượng mới của một số loại u thường gặp như sarcôm mỡ (SM) mất biệt hóa, u xơ đơn độc (UXĐĐ)10. Về điều trị, phẫu thuật (PT) là chỉ định hàng đầu đối với SMM, tuy nhiên, rất khó để cắt bỏ toàn bộ khối u này, vì u thường xâm lấn tại chỗ rộng, kích thước khối u thường lớn và thay đổi theo vị trí giải phẫu.
Đây cũng là một trong các yếu tố quan trọng trong tiên lượng các loại SMM5. Vì những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu mô bệnh học, hóa mô miễn dịch và một số yếu tố tiên lƣợng của sarcôm mô mềm thƣờng gặp” được thực hiện nhằm hai mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu mô bệnh học và hóa mô miễn dịch của sarcôm mô mềm theo phân loại của tổ chức y tế thế giới năm 2013. Phân tích một số yếu tố đại thể và vi thể mang ý nghĩa tiên lượng của một số sarcôm thường gặp.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phân loại mô bệnh học các SMM Phân loại MBH u mô mềm lần đầu tiên được Pack và Ehlich nghiên cứu năm 1944 và sau đó là Cappel năm 1948. Những phân loại thời kỳ này tập trung mô tả hình thái nhân hơn là loại tế bào u. Thuật ngữ sarcôm tế bào tròn, sarcôm tế bào thoi hoặc sarcôm đa hình có lẽ giúp thuận lợi trong chẩn đoán, không phản ánh bản chất của mô u cũng như diễn biến lâm sàng.
Những phân loại dựa trên sự mô tả đơn thuần đã không phân biệt được rõ ràng những sarcôm thực sự với quá trình viêm phản ứng giả sarcôm (viêm cân thể cục…). Những phân loại sau này, về nguyên tắc, dựa vào sự biệt hóa của dòng tế bào cấu tạo nên mô u hơn là dựa vào loại mô mà u phát sinh. Một trong những phân loại này là bảng phân loại của Stout (1957), Stout và Lattes (1967) và sau đó đựợc Lattes bổ sung năm 1983. Phân loại đầu tiên được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu cho SMM là phân loại của TCYTTG (1969).
Sự tiến bộ về HMMD và SHPT đã dẫn đến sự ra đời các phân loại mới, phục vụ tốt hơn cho chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh. Đến nay đã có 05 phân loại về u mô mềm của TCYTTG, 02 phân loại mới nhất ra đời vào năm 2013 và 2020. Phân loại mô học các SMM của TCYTTG lần 4 (2013) Phân loại SMM năm 2013 ra đời sau 11 năm so với phân loại trước. Trong thời gian đó đã có một số thay đổi trong phân loại SMM, chủ yếu dựa vào việc phát hiện ra các gen mới trong phân biệt các típ khối u.
Ngoài ra, một số loại hình thái riêng biệt mới của các típ khối u đã được mô tả cùng với sự thay đổi mới trong vấn đề gen di truyền6,9. Phân loại mô học các SMM của theo TCYTTG năm 2013 1. U mỡ - Trung gian (tiến triển tại chỗ): U mỡ không điển hình/Sarcôm mỡ biệt hóa cao 8850/1 - Ác tính: Sarcôm mỡ không có gì đặc biệt 8850/3 Sarcôm mỡ mất biệt hóa 8858/3 Sarcôm mỡ nhày 8852/3 Sarcôm mỡ đa hình 8854/2 2. U nguyên bào xơ/xơ cơ - Trung gian hiếm di căn Sarcôm xơ bì lồi 8832/1* Sarcôm xơ bì lồi biến thể dạng sarcôm xơ 8832/3* Sarcôm xơ bì lồi hắc tố 8833/1 U xơ đơn độc típ thông thường 8815/1 U nguyên bào xơ cơ viêm 8825/1 Sarcôm nguyên bào xơ cơ độ thấp 8825/3* Sarcôm nguyên bào xơ nhày viêm /u nguyên bào xơ nhầy viêm không điển hình 8811/1* Sarcôm xơ trẻ em 8814/3 - Ác tính Sarcôm xơ người lớn 8810/3 Sarcôm xơ nhày 8811/3 Sarcôm dạng xơ nhày độ thấp 8840/3* Sarcôm xơ dạng biểu mô xơ cứng 8840/3* U xơ đơn độc ác tính 8815/3 3.
Những u đƣợc gọi là mô bào - Ác tính: U tế bào khổng lồ ác tính của mô mềm 9252/3 5 4. U cơ trơn: Sarcôm cơ trơn 8890/3 5. U quanh mạch: U cuộn mạch ác tính 8711/3 6. U cơ vân Sarcôm cơ vân thể phôi 8910/3 (bao gồm biển thể chùm nho, bất thục sản) Sarcôm cơ vân thể hốc 8920/3 (bao gồm biến thể đặc, bất thục sản) Sarcôm cơ vân đa hình 8901/3 Sarcôm cơ vân xơ cứng/tế bào thoi 8912/3 7.
U mạch - Trung gian hiếm di căn Sarcôm Kaposi 9140/3 - Ác tính: U nội mô mạch máu dạng biểu mô 9133/3 Sarcôm mạch của mô mềm 9120/3 8. U xƣơng-sụn Sarcôm xương ngoài xương 9180/3 Sarcôm sụn trung mô ác tính ngoài xương 9. U mô đệm dạ dày ruột GIST nguy cơ ác tính trung gian 8936/1 GIST ác tính 8936/3 10. U thần kinh ngoại vi U vỏ thần kinh ngoại vi ác tính 9540/3 U vỏ thần kinh ngoại vi ác tính dạng biểu mô 9542/3* U Triton ác tính 9561/3 U tế bào hạt ác tính 9580/3 U ngoại trung mô 8921/3 6 11.
U không rõ nguồn gốc biệt hóa (chƣa chắc chắn) Sarcôm bao hoạt dịch không có gì đặc biệt 9040/3 Sarcôm bao hoạt dịch tế bào thoi 9041/3 Sarcôm bao hoạt dịch típ hai pha 9043/3 Sarcôm dạng biểu mô 8804/3 Sarcôm phần mềm hốc 9581/3 Sarcôm tế bào sáng của mô mềm 9044/3 Sarcôm sụn dạng nhày ngoài xuơng 9231/3 Sarcôm Ewing ngoài xương 9364/3 U tế bào tròn nhỏ xơ hóa 8806/3 U dạng vân ác tính ngoài thận 8963/3 U có biệt hóa tế bào dạng biểu mô quanh mạch ác tính 8714/3 Sarcôm màng trong mạch 9137/3* 12. Sarcôm không biệt hóa/không xếp loại Sarcôm tế bào thoi không biệt hóa 8801/3 Sarcôm đa hình không biệt hóa 8802/3 Sarcôm tế bào tròn không biệt hóa 8803/3 Sarcôm tế bào dạng biểu mô không biệt hóa 8804/4 Sarcôm không biệt hóa không có gì đặc biệt 8805/5 Một số điểm mới của phân loại năm 2013 so với các phân loại trƣớc: Một số thay đổi - Về u mỡ: Sự thay đổi đáng chú ý nhất trong thể loại khối u này là đã xóa bỏ thuật ngữ SM tế bào tròn, và xếp loại u này nằm trong nhóm SM nhầy độ cao. SM nhầy được chia thành 3 độ: độ thấp, trung gian và độ cao, dựa vào tỷ lệ mật độ tế bào. Trong một khối u có thể có nhiều vùng mô học khác nhau, có các vùng chuyển tiếp từ thấp, trung gian đến cao.
SM nhầy độ cao thường thấy các tế bào hình thoi nhưng có thể biểu hiện bởi tế bào tròn chiếm ưu thế, vì 7 thế chẩn đoán SM tế bào tròn. Nhưng khi làm xét nghiệm SHPT thì chúng có cùng một kiểu gen, FUS-DDIT3 [hợp nhất trong sarcôm-DNA thiệt hại cảm ứng bảng điểm 3], hay ít gặp hơn, hợp nhất gen EWSR1-DDIT3 có mặt trong cả hai loại mô học. Bất kể hình thái tế bào u tròn hay thoi, SM nhầy độ cao có tiên lượng như nhau, với một tần số lớn của di căn và sự sống còn tồi tệ hơn so với các khối u ở mức độ thấp11,12. SM típ hỗn hợp đã được loại bỏ trong phân loại SMM năm 2013.
Thể loại này trước đây là típ mà có hình thái mô học hỗn hợp gồm các cấu trúc nhầy và/ hoặc biệt hóa cao/ mất biệt hóa và/ hoặc SM đa hình. Tuy nhiên, trong phân loại này đã có sự đồng thuận cho rằng những u có cấu trúc hỗn hợp như vậy được xếp vào típ SM mất biệt hóa. Đối với những trường hợp hiếm gặp của SM không xếp loại, thuật ngữ SM không xác định được giữ lại như một phân loại quốc tế9,13. Định nghĩa SM mất biệt hóa có thay đổi một chút so với định nghĩa trước đó.
Trước đây SM mất biệt hoá được xem như là sarcôm không sinh mỡ, phát sinh từ SM biệt hóa cao hay các u mỡ không điển hình. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta vẫn nhận thấy sự biệt hóa các nguyên bào mỡ như là một thành phần của SM mất biệt hóa.