mở đầu trong quá trình phát sinh ung thư [16]. ORF2 mã hóa protein có hoạt tính sao chép ngược và endonuclease. Sự biểu hiện cao của endonuclease gây đứt gãy DNA, gây tổn thương và ảnh hưởng đến quá trình sửa chữa DNA và tăng sự mất ổn định hệ gen [29]. Kích hoạt enzyme phiên mã ngược có thể thúc đẩy sự tăng sinh và biệt hóa tế bào, đồng thời làm thay đổi phiên mã non-coding RNA khác, dẫn đến thay đổi mạng lưới điều hòa tế bào, phát triển khối u và các quá trình liên quan đến bệnh lý [13, 48].
De Luca và cộng sự (2016) đã sử dụng một kháng thể đơn dòng đặc hiệu cao (mAb chA1-LINE-1) cho thấy ORF2p biểu hiện cao trong các dòng tế bào ung thư và các loại ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú; trong khi không thu nhận được tín hiệu ở mô lành [16]. Sự biểu hiện mạnh của ORF2p xảy ra ở giai đoạn tiền ung thư hay 10 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Thân-K30 Công nghệ sinh học loạn sản của ung thư đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt nhưng biểu hiện của ORF2p không đồng nhất hay theo một xu hướng tăng hoặc giảm theo độ mô học của ung thư biểu mô tuyến [16]. Điều này, trái ngược với sự biểu hiện mRNA-ORF2 tăng theo độ mô học của khối u [6] và quá trình hình thành ung thư [52]. Sự mâu thuẫn giữa biểu hiện ở cấp độ RNA và protein gợi ý cơ chế kiểm soát sau phiên mã và dịch mã khiến không có sự tương quan tỷ lệ thuận giữa RNA của LINE-1 và ORFp.
Gần đây, các nghiên cứu lập hồ sơ protein của khối u dựa trên khối phổ; Western blot, hóa mô miễn dịch, kết tủa miễn dịch chỉ ra rằng ORF2p rất khó được phát hiện; ngay cả khối u có biểu hiện rất cao ORF1p thì cũng không phát hiện được ORF2p [3]. Do đó, phát triển kỹ thuật phát hiện được ORF2p đang là thách thức hiện tại. LINE-1 và ung thư Như đã trình bày ở trên, LINE-1 hoạt động ở dòng tế bào mầm và trong quá trình tạo phôi [27], nhưng chúng bị bất hoạt trong các tế bào soma do bị methyl hóa [11, 46, 56]. Tuy nhiên khi methyl hóa LINE-1 giảm (hypomethylation), sự vận động của LINE-1 được kích hoạt, gây mất ổn định nhiễm sắc thể, bất ổn định bộ gen và liên quan đến nhiều bệnh lý và tiến triển ung thư [10, 21, 25].
Cùng với sự phát triển của giải trình tự NGS, nhiều báo cáo phát hiện sự xen cài của LINE-1 trong hệ gen tế bào ung thư phổi, đại tràng, vú, buồng trứng [2, 57]. Trong đó theo báo cáo của Lee và cộng sự, mức độ LINE-1 xen cài được tìm thấy cao nhất trong ung thư đại tràng sau đó đến ung thư tuyến tiền liệt, ung thư buồng trứng, trong khi đa u tủy và u nguyên bào thần kinh đệm, không quan sát thấy sự xen cài của LINE-1 [33]. Hơn nữa, sự vận động của LINE-1 được xem là kết quả của giảm mức độ methyl hóa. Hiện tượng LINE-1 giảm methyl hoá có liên quan đến các giai đoạn tiến triển của ung thư, đặc biệt như ung thư phổi, vú, dạ dày, gan, trực tràng, ung thư thực quản, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư nội mạc tử cung [32, 43].
Tình trạng LINE-1 giảm methyl hóa được nghiên cứu nhiều nhất ở ung thư đại tràng. Sự giảm methyl hóa LINE-1 ở mẫu ung thư biểu mô tuyến so với mẫu mô lành xảy ra sớm trong quá trình tiến triển của ung thư đại trực tràng [57]. Mức độ methyl hóa LINE-1 giảm dần từ 11 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Thân-K30 Công nghệ sinh học mẫu loạn sản/tiền ung thư sang mẫu u tuyến (advanced adenoma), ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma), nhưng không có sự khác biệt đáng kể giữa u tuyến và ung thư biểu mô tuyến [52, 57]. Hiện nay, giảm methyl hoá LINE-1 được xem là dấu chuẩn cho bệnh nhân ung thư đại tràng trong giai đoạn sớm ung thư, trước khi tế bào chuyển sang trạng thái ác tính.
Việc phát hiện sớm sự hình thành u tuyến có tầm quan trọng rất lớn trong chẩn đoán ung thư, giúp bệnh nhân được phẫu thuật kịp thời, tăng cơ hội sống sót cho bệnh nhân. Tương tự như ung thư đại trực tràng, mức độ giảm methyl hóa của LINE-1 cũng là một sự kiện khởi đầu trong quá trình sinh ung thư vú, quan sát từ mô lành sang tình trạng loạn sản/hay tăng sản của các tế bào mô vú (ADH/FEA) và mức độ methyl hóa không thay đổi từ ung thư biểu mô ống tại chỗ sang ung thư biểu mô ống xâm lấn [44]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Hoesel và cộng sự (2012) lại chỉ ra không có sự khác biệt giữa mức độ methyl hóa LINE-1 từ mô vú lành sang loạn sản/tăng sản tế bào nhưng có sự giảm methyl hóa ở ung thư biểu mô tại chỗ và ung thư biểu mô vú xâm lấn giai đoạn I [62]. Nhưng, cả hai nghiên cứu đều chỉ ra mức độ methyl hóa LINE-1 là dấu ấn sinh học cho chẩn đoán và tiên lượng loại ung thư này.
Ngoài ra trong ung thư phổi, giảm mức độ methyl hóa LINE-1 gắn liền với tăng tính bất ổn định của hệ gen trong các giai đoạn tiến triển của ung thư [59]. Suzuki và cộng sự (2013) nhận thấy mức độ methyl hóa LINE-1 giảm tới 54% ở mẫu ung thư phổi không tế bào nhỏ khi so với mẫu mô không phải ung thư [59]. Hơn nữa, có sự giảm methyl hóa LINE-1 rõ ràng giữa loại ung thư phổi tế bào vảy (squamous cell carcinoma) và tế bào tuyến (adenocarcinoma) [59]. Ikeda và cộng sự (2013) khi nghiên cứu trên 211 bệnh nhân NSCLC đã báo cáo sự giảm có ý nghĩa thống kê của mức độ methyl hóa LINE-1 ở mẫu u so với mẫu mô liền kề [28].
Như vậy, tình trạng giảm methyl hóa LINE-1 có thể được xem là một dấu chuẩn hỗ trợ chẩn đoán, tiên lượng các loại ung thư khác nhau. Tuy nhiên, các bằng chứng gần đây đã chỉ ra rằng cần xem xét lại nhận định LINE-1 giảm methyl hóa trong ung thư. Nghiên cứu của Ardeljan và cộng sự (2020) 12 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Thân-K30 Công nghệ sinh học đã chỉ ra LINE-1 tăng biểu hiện trong khối u ở giai đoạn sớm nhưng LINE-1 bị bất hoạt gắn liền với tăng trưởng khối u trong mẫu ung thư đại tràng [1]. Một nghiên cứu trên quần thể khối u có khả năng kháng thuốc của bệnh nhân ung thư phổi, việc tăng methyl hóa của H3K9 (lysine 9 trên histone H3), dẫn đến hình thành cấu trúc dị nhiễm sắc, giúp hệ gen của tế bào khối u giảm thiểu tổn hại trong quá trình điều trị và tiếp tục sống sót [24].
H3K9 bị methyl hóa phân bố chủ yếu trên vùng 5’UTR LINE-1 và có mối liên hệ mật thiết với methyl hoá LINE-1 [24]. Một nghiên cứu khác về việc tăng biểu hiện protein HELZ2 được mã hóa bởi các gen kích thích interferon (ISG) ức chế hoạt động chuyển vị của LINE-1 [35]. Interferon là các cytokines được tăng tiết khi tế bào vật chủ chống lại các quá trình xâm nhiễm virus hay các tác nhân lạ (axit nucleic ngoại lai, bất thường), vì vậy được coi như là chất chống khối u [39]. HELZ2 có hoạt tính exoribonuclease và có khả năng nhận biết được vùng 5’-UTR của phân tử LINE-1 RNA, qua đó phân cắt phân tử RNA và ngăn cản sự hình thành của phức LINE-1 ribonucleprotein từ đó làm giảm khả năng chuyển vị của LINE-1, sau đó làm giảm phản ứng IFN [35].
Bên cạnh ung thư, kết quả trái chiều về tăng và giảm methyl hoá LINE-1 cũng được báo cáo ở các bệnh lý thần kinh như bệnh rối loạn phổ tự kỉ (Autism spectrum disorder), bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenia), rối loạn thần kinh (First-episode psychosic) [50]. Việc tăng hay giảm hoạt động của LINE-1 trong ung thư vẫn đang vấp phải tranh cãi. Rất có thể, ở những giai đoạn sớm LINE-1 tăng hoạt động gắn liền với tích lũy đột biến, gây ra những biến đổi trạng thái tế bào sang ác tính. Ở những giai đoạn sau, LINE-1 bị giảm hoạt động khi có quá nhiều đột biến, nhờ đó các tế bào khối u có thể tiếp tục tồn tại và phát triển.
Phân tích tỉ lệ methyl hóa DNA bằng kĩ thuật qMSP Kĩ thuật qMSP là sự kết hợp giữa phương pháp xử lí bisulfite và thiết kế mồi đặc hiệu methyl hóa cho phản ứng realtime PCR (qPCR), để định lượng tình trạng methyl hóa DNA. Kĩ thuật này khuếch đại DNA đích đã được xử lý với bisulfite. Bisulfite biến đổi các cytosine không bị methyl hóa thành uracil trong khi các cytosine bị methyl hóa được giữ nguyên [55]. Sử dụng DNA khuôn đã xử lý và các mồi được thiết kế đặc hiệu ở vùng giàu CpG, chỉ có trình tự DNA bị methyl hóa (có các vị trí 13 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Thân-K30 Công nghệ sinh học CpG được giữ nguyên) sẽ được khuếch đại [55].
Điểm yếu của phương pháp xử lý bisulfite là khi xảy ra sự biến đổi không hoàn toàn các cytosine không methyl hóa thành thymine thì sẽ dẫn đến kết quả dương tính giả (mức độ methyl hóa cao). Đồng thời, việc biến đổi 5-methylcytosine (5mC) thành thymine có thể xảy ra khi quá trình chuyển đổi cytosine hoàn tất, do đó làm giảm mức độ methyl hóa trên mẫu bệnh phẩm. Để giảm thiểu các lỗi này và tăng hiệu suất xử lý, các yếu tố quan trọng cần được xem xét là chất lượng DNA, độ pH thích hợp, nhiệt độ và thời gian ủ hợp lý [67]. Hầu hết các kit thương mại trên thị trường đều áp dụng cho gen đơn bản, giới hạn ngưỡng đầu vào 2000 ng tương đương 106 bản sao của gen đơn bản [31].
Đối với LINE-1 là yếu tố lặp, 105 bản sao trong một tế bào thì lượng DNA đầu vào xử lý phải thấp hơn rất nhiều so với gen đơn bản để đảm bảo trình tự LINE-1 được xử lý hoàn toàn [45]. Bên cạnh nồng độ DNA, hiệu suất xử lý bisulfite còn ảnh hưởng bởi các yếu tố như mức độ phức tạp của trình tự đích, hàm lượng CG, cấu trúc bậc hai và thậm chí một vị trí cytosine nhất định trong một trình tự cụ thể cũng gây cản trở đến kết quả [45]. Mức độ methyl hóa ở trình tự đích được định lượng kết quả thông qua realtime PCR. Đây là kĩ thuật định lượng cho phép hiển thị kết quả khuếch đại DNA đích ngay sau mỗi chu kỳ nhiệt [8].
Lượng sản phẩm PCR tăng tỉ lệ thuận với tín hiệu huỳnh quang thu được. Đối với phản ứng định lượng qPCR, hiệu suất phản ứng E và hệ số tuyến tính R2 là hai thông số rất quan trọng.