CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE LŨ, LUT 1. Tinh hình nghiên cứu lũ, lụt. Nghiên cứu lũ, lụt trên thế giới 1. Tình hình lũ, lụt trên thé giới Dưới tác động của biến đổi khí hậu: bão, lũ lớn tăng cả tần số lẫn cường độ cùng với mực nước biển dâng dẫn đến nguy cơ thoát lũ kém, mặn lấn sâu vào lục địa, kèm theo hệ thống phòng, chống lũ như đê điều được xây dựng đã lâu chưa được nâng cấp hoàn chỉnh làm cho lũ lụt ngày càng xảy ra nghiêm trọng, thiệt hại càng tăng.
Những năm qua, các quốc gia trên thé giới thường xuyên phải đối mặt với thiên tai do lũ lụt gây ra, thảm họa lớn điển hình như: Hà Lan, một nước Bắc Âu, theo số liệu lịch sử lũ năm 1421 lũ đã làm chết 100 ngàn người, lũ năm 1530 làm chết 400 ngàn người. Đặc biệt vào tháng 1/1953, bão, sóng lớn và triều cường của Biển Bắc đã phá hủy hon 45 km đê biển gây ngập lụt 3 tỉnh phía Nam làm 1.800 người chết; 100 nghìn người phải sơ tán; làm ngập hơn 150 nghìn ha đất và hơn 10 nghìn ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn. Hai trận lũ lớn năm 1993, 1995 gây thiệt hại cho đất nước Hà Lan hàng triệu USD [15]. Tại Úc, trận lũ lớn xảy ra đầu năm 2011 là một thảm họa lớn chưa từng thấy trong lịch sử nước Úc: hơn 70 đô thị chìm trong nước, 200.000 dân bị ảnh hưởng, hơn 80 người chết và mat tích, thiệt hại khoảng 13 ty USD tương đương 1% GDP của Úc.
Ở Thái Lan lũ năm 1785 ngập sâu 4,25 m; lũ năm 1917 toàn bộ tuyến đường giao thông bị ngập nước trong | thang; năm 1975 lũ với lưu lượng 4000 m/s gây thiệt hại khoảng 1100 triệu Bath [19]. Lũ lụt năm 1983 kéo dài từ 3- 5 tháng, thiệt hại 213 triệu USD; năm 1995 lũ với lưu lượng 5.400 m⁄s, mực nước trên sông Chao Phraya là 2,27 m trên mực nước biên, nước tran qua đê, ước tính thiệt hại khoảng 3000 triệu Bath, vùng ngoài Bangkok khoảng 50. Lũ lụt năm 2010 làm 8,6 triệu người bị ảnh hưởng tại 51 tỉnh, thành phố, 257 người bị chết và mắt tích chủ yếu do chết đuối, gây thiệt hại khoảng 1,7 tỷ USD. Với trận đại hồng thủy diễn ra vào đầu tháng 10 năm 2011, Ngân hàng Thế giới ước tính lũ lụt Thái lan được xếp hạng thứ tư trong bốn thảm họa tôi tệ nhất thế giới - trận động đất và sóng thần năm 2011 tại Nhật Bản, động đất năm 1995 tại Kobe, cơn bão Katrina năm 2005 ở Mỹ.
Giới chức Thai Lan ước tính thảm họa thiên nhiên tôi tệ vừa qua có thé làm giảm tăng trưởng GDP của nước này xuống mức dưới 2,6%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 4,1% dự kiến trước đó. Lũ lụt khiến tổng giá trị GDP của Thái Lan giảm khoảng 4,9 tỷ USD, trong khi doanh thu từ ngành liên quan tới du lịch bị giảm tới trên 600 triệu USD đo số du khách tới nước này dự kiến giảm từ 700.000 lượt người. Ước tính ngành công nghiệp thiệt hai 95 ty Baht với 930 nhà máy ở 28 tỉnh bị ảnh hưởng, ngành nông nghiệp thiệt hại 25 tỷ Baht, và thiệt hại về nhà ở vùng ngoại ô khoảng 65 tỷ Baht [1]. Ở Campuchia, lụt lớn thường do sông Mê Công gây ra bởi hậu quả của những cơn mưa gió mùa ở thượng nguồn.
Thủ đô Phnom — Penh hàng năm bị đe doạ ngập lụt do sông và do lụt đô thị gây nên bởi những trận mưa to trong mùa nước nổi. Theo báo cáo vào năm 1996, lũ lụt làm chết 155 người, phá hoại 253.000 ha ruộng lúa và thiệt hại kinh tế khoảng 8,6 triệu USD. Tai Malayxia trận lũ đặc biệt lớn tháng XI/1986 ở hạ lưu sông Trengganu va Kelantan đã làm 14 người chết, thiệt hại khoảng 12 triệu USD. Trận lũ lớn xảy ra đầu năm 2005 tại New Orleans là một thảm họa lớn chưa từng thấy trong lịch sử nước Mỹ: Trận lũ đã cướp đi 1.836 sinh mạng và thiệt hại khoảng 81 tỷ USD [1].
Đối với lũ, lụt thì dién biến cũng như thiệt hại của nó thường có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn về không gian và thời gian. Vì vậy cần phải có kinh nghiệm để phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra một cách thích hop, nhất là trong bối cảnh khí hậu luôn biến đổi, luôn tạo ra những hiểm hoạ mới khó lường. Phòng chong lũ lụt trên thé giới Ngập lut là một trong những thảm họa thiên nhiên tác động bao trùm khu vực rộng lớn. Do mật độ dân cư sống dọc theo những dòng sông khá cao và ở hạ lưu thường là khu vực có hoạt động sản xuất kinh tế tập trung như: Băng La Đét, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam., nên nạn lụt gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cả về tài sản cũng như cướp di cuộc sống của rất nhiều người hàng năm.
Lũ, lụt lớn ngày càng tăng cả về tần số lẫn cường độ, các quốc gia thường xuyên phải đối mặt với thiên tai lũ đã đầu tư rất lớn cho cuộc chiến chống lại lũ, lụt qua nhiều giai đoạn với các mức độ khác nhau từ phòng, chống lũ thụ động tới kiểm soát lũ chủ động hơn. Có rất nhiều các biện pháp đã được áp dụng: bao gồm các biện pháp phi công trình và công trình, các kế hoạch chiến lược ngắn và dài hạn, các chính sách, phổ biến thông tin, nhằm giảm nhẹ tác hại của tai ngăn ngừa chúng xảy ra trong tương lai. Những quốc gia này đã thực hiện phòng chống lũ, lụt cho mình một cách hiệu quả và phù hợp, điển hình như: e Trung Quốc Chiến lược phòng, chống lũ của Trung Quốc là “tăng cường chứa lũ ở thượng nguồn; bảo vệ các vùng ảnh hưởng lũ ở trung lưu và hạ lưu các sông lớn; phối hợp chứa lũ, giảm lũ ở trung lưu; chuẩn bị tốt khả năng chống lũ trước mùa mưa lũ”. Thực hiện quản lý lũ ở Trung Quốc là Bộ Thủy lợi và các ủy ban lưu vực sông.
Các giải pháp công trình chủ yếu trong quản lý lũ của Trung Quốc hiện nay là: - Hệ thống đê, đây là biện pháp truyền thống và đã tồn tại hàng ngàn năm với khoảng 278. - Hồ chứa thượng lưu, hiện Trung Quốc có khoảng 86.000 hồ chứa các loại với tong dung tích 566 tỷ mỶ nước bảo vệ cho khoảng 12 triệu ha đất canh tác khỏi ngập lụt; 98 khu vực chứa lũ với khả năng chứa khoảng 120 tỷ m' nước và khoảng 2.000 trạm bom lớn và trung bình dé tiêu ting. Thêm vào đó, chính phủ đã thực hiện một loạt các chiến lược nhằm phục hồi những vùng bị lũ lụt và cải thiện việc phòng, chống lũ lụt. Các chiến lược này bao gồm trồng rừng, bảo vệ khu bảo tồn quốc gia, cải thiện dòng chảy mùa lũ và mạng lưới kênh, củng có các đê chính, tái định cư cho những khu vực dễ bị lũ lụt [6].
° Hoa Kỳ Hoa Kỳ đã từ lâu xây dựng “chiến lược giảm nhẹ thiên tai Hoa Kỳ”. Coi chiến lược trong kiểm soát lũ và giảm nhẹ lũ là quan hệ đối tác vì mục tiêu xây dựng các cộng đồng an toàn hơn. Trong đó trách nhiệm nâng cao nhận thức của cộng đồng, hỗ trợ cộng đồng chủ động trong phòng, chống, giảm nhẹ tác hại của lũ được quan tâm đặc biệt. Quan điểm tiếp cận trong quản lý lũ của Hoa Ky là giảm tối đa các tốn thất và các tác động xấu của lũ.
Quản lý lũ của Hoa Kỳ gồm: Các giải pháp phi công trình có hiệu quả như “ bảo hiểm lũ lụt” có từ năm 1969 hay phân vùng lũ, lụt để có giải pháp ứng phó và kiểm soát. Xây dựng các công trình hồ chứa ở thượng nguồn; xây dựng hệ thống đê, kè, tường chắn lũ ở nhưng nơi xung yếu như trên lưu vực sông Mississippi qui hoạch phải có 2.500 km dé, kè và tường chắn lũ. Ngoài ra còn xây dựng các hệ thống đo đạc, giám sit phục vụ dự báo, cảnh báo lũ, quy hoạch các khu dân cư, di dồi khi có lũ lớn + Bangladesh Bangladesh là một quốc gia luôn phải đối mặt với lũ lụt. xây dựng một chiến lược kiểm soát lũ quốc gia, lập quy hoạch tổng thé, thiết lập cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác khảo sát, đo đạc thủy văn; xây dựng một số công trình chống lũ lớn, các dự án tiêu nước.
Giai đoạn tiếp theo, từ năm 1978-1996, Bangladesh tập trung xây dựng một số công trình chống lũ và tiêu thoát lớn, xây dựng quy hoạch nước quốc gia, đến năm 1988 xây dựng chiến lược về nước và quản lý lũ quốc gia, trong đó có kế hoạch đối ph với lũ. Trong giai đoạn này vẫn để về môi trường và cộng đồng được coi trong trong quản lý lũ. Từ năm 1996 đến nay, tập trung vào việc lồng ghép kiểm soát lũ trong quản lý tổng hợp tải nguyên nước, kiểm soát lũ cũng bắt đầu tiếp cận theo quan điểm tổng hợp. Trong đó các giải pháp phi công trình .được chú trọng nhiều hơn.
“Các gidi pháp công trình trong kiểm soát của Bangladesh gm khoảng 10.500 km kênh tiêu với khoảng 5.000 công trình tiêu ting; khoảng 100 tram bơm lớn; 1.250 công trình ngăn cửa sông [22]. Ngoài ra còn có 85 trạm quan trắc phục vụ công tác dự báo và cảnh báo lũ. Bangladesd 6 13 bộ liên quan đến kiểm soát lũ, trong đó vai trò chính là Bộ phát triển nguồn nước. © Nhật Ban Tir những năm 1896, Nhật Bản đã đưa ra Luật sông ngồi dé thực hiện kiểm soát lũ, lụt và được xem là hoạt động quan trọng trong việc tái thiế và phục hồi kinh tế Nhật.
Phòng chống lũ, lụt tại Nhật Bản có thể nói đã có những bước tiến đột phá từ chống lũ bị động sang chủ động và mang tính tổng hop cao. Điều đó thể hiện như sau: - Tir năm 1896 đến 1964: Nhật Bản chủ yếu tập trung vào chỗng lũ ở các sông mang tính thụ động, tức là khi có lũ thi mới bắt đầu sử dung các biện pháp khác nhau để giảm các thiệt hại do lũ gây ra, mang tính phản ứng lại nhiều hơn. ~ Từ năm 1964 đến1997: Thời gian này kiểm soát lũ của Nhật Bản có sự chuyển biến rõ rệt, cụ thé là quản lý lũ gắn liền với sử dụng nước làm cho hiệu quả phòng chống lũ được nâng cao. - Đến năm 1997, khi Luật sông ngồi được sửa đổi, kiểm soát lồ của Nhật Ban được quản lý mang tính tổng hợp cao hơn, g: với sử dụng nước và bảo vệ môi trường.