Phần mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1:Cơ sở lý luận. Chƣơng 2:Lỗi sử dụng hành vi khen bằng tiếng Việt của Học viên Quân sự Lào Chƣơng 3:Lỗi tiếp nhận lời khen bằng tiếng Việt của Học viên Quân sự Lào. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ LỖI Trong thực tế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lỗi và phân tích lỗi.Về cơ bản, có thể nói đến 4 quan niệm về lỗi mà đƣợc các nhà nghiên cứu rất quan tâm.
Lỗi nhìn dưới góc độ cấu trúc và hành vi luận. Hơn hai thập kỉ sau chiến tranh thế giới thứ hai, quan niệm về lỗi của các nhà nghiên cứu theo thuyết hành vi (behaviourism) và cấu trúc luận có ảnh hƣởng rất lớn đến việc dạy và học tiếng. Quan điểm này dựa trên cơ sở lý thuyết của các nhà tâm lý học nổi tiếng nhƣ Watson (1924), Thorndike (1932), và Skinner (1957) [dẫn theo 5]. Theo thuyết hành vi, con ngƣời là một tổ chức có khả năng thực hiện nhiều hành vi khác nhau.
Sự xuất hiện của các hành vi này phụ thuộc vào 3 yếu tố trong quá trình học. Kích thích (stimulus) để tạo ra hành vi phản ứng (response) và củng cố (reinforcement) nhằm khẳng định sự phù hợp (hay không phù hợp) của phản ứng và khuyến khích sự lặp lại (hoặc mất đi) phản ứng trong tƣơng lai để cuối cùng có đƣợc thói quen. Thói quen đƣợc hình thành trong quá trình học ngoại ngữ cũngnhƣ các kiểu học khác. Trong quá trình tiếp nhận một ngôn ngữ khác, ngƣời học đã mang sang ngôn ngữ thứ hai những thói quen trong tiếng mẹ đẻ của họ.
Thói quen đƣợc tạo nên bởi một phản hồi tự động trƣớc một kích thích có sẵn. Dựa trên cơ sở lý thuyết rút ra từ các kết quả thực nghiệm trên, Dakin (1973) đã chỉ ra 3 nguyên tắc chính của việc dạy và học tiếng. Đó là ngƣời học phải tạo ra các câu trả lời lăp lại một cách tích cực trƣớc các kích thích. Nguyên tắc thứ hai là cần phải khen thƣởng cho câu trả lời đúng với ngữ đích và sửa ngay các câu sai.
Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc định hình (2003) [5]. Nguyên tắc này cho thấy kết quả học tiếng sẽ tốt hơn và diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi hơn nếu nhƣ các hành vi phức tạp đƣợc chia nhỏ ra thành các bộ phận cấu thành và học dần dần. Nhƣ vậy, ngƣời học phải có đƣợc hành vi nói (Verbal behaviour) trong quá trình học tiếng. Kích thích là cái đƣợc dạy hoặc đƣợc giới thiệu cho ngƣời học.
Phản ứng là sự đáp lại của ngƣời học đối với cái đƣợc dạy. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Củng cố là sự chấp nhận của giáo viên, của các bạn học hoặc sự thỏa mãn của cá nhân đối với việc sử dụng ngôn ngữ đích. Việc nắm vững ngôn ngữ đƣợc thể hiện qua việc xử lý một chuỗi các kích thích – phản ứng ngôn ngữ phù hợp. Kết quả nghiên cứu này của các nhà tâm lý học theo thuyết hành vi và các thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học cấu trúc đã tạo cơ sở lý thuyết cho việc hình thành hƣớng dạy học theo khuynh hƣớng cấu trúc.
Đƣờng hƣớng này coi “ việc học ngoại ngữ về cơ bản là một quá trình hình thành thói quen một cách máy móc”. Dƣới cái nhìn của các nhà nghiên cứu theo đƣờng hƣớng cấu trúc: Trong quá trình học tiếng, lỗi phải đƣợc ngăn chặn ngay từ đầu dù chúng là lỗi gì bởi đó là sự lệch chuẩn, không đƣợc chấp nhận và phải đƣợc ngăn chặn mọi giá. Lỗi là những nhân tố ngăn cản việc hình thành thói quen sử dụng đúng ngôn ngữ đích và nó là những biểu hiện không tốt cho việc học tiếng.Quan niệm này đề cao việc chỉ dạy cho ngƣời học nắm vững các cấu trúc. Lỗi nhìn dưới góc độ ngôn ngữ học chức năng Các nhà nghiên cứu theo khuynh hƣớng chức năng cho rằng, cần phải tập trung vào việc phát triển năng lực giao tiếp (Communicative competence) hơn là chỉ dạy cho ngƣời học cách nắm vững các cấu trúc.Đặc biệt, đƣờng hƣớng dạy học theo quan điểm này đã đƣợc phát triển rộng rãi ở Anh và Mĩ từ giữa những năm 70 của thế kỉ trƣớc.
Mục đích chính của nó là làm cho năng lực giao tiếp trở thành mục tiêu chính của việc dạy và học tiếng. Nếu nhƣ các nhà nghiên cứu theo quan điểm cấu trúc đề cao việc việc chỉ dạy cho ngƣời học nắm vững các cấu trúc thì các nhà nghiên cứu theo khuynh hƣớng chức năng lại đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Họ cho rằng,ngôn ngữ được coi là sản phẩm cá nhân tạo ra qua thử nghiệm, và mắc lỗi[73].Trong giao tiếp, việc mắc lỗi đƣợc coi là đƣơng nhiên và thƣờng đƣợc bỏ qua, miễn là ngƣời nói diễn đạt đƣợc điều họ muốn nói. Nhờ có ngữ cảnh mà các chủ thể tham gia giao tiếp vẫn có thể hiểu đúng đƣợc ý của nhau.
Nhƣ vậy, ý nghĩa của thông điệp trong giao tiếp nhiều khi quan trọng hơn hình thức biểu đạt. Phát ngôn vẫn có 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể chấp nhận đƣợc nếu chúng diễn đạt đúng ý định của ngƣời nói trong quá trình giao tiếp dù phát ngôn có lệch chuẩn hay bị lỗi theo lí thuyết. Lỗi xét theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu Các ngôn ngữ trong quá trình tiếp xúc (Languages in contact) là công trình rất nổi tiếng của Weinreich vào đầu những năm 50 của thế kỉ XX. Hành vi ngôn ngữ của những ngƣời song ngữ (bilinguals) sống trong các cộng đồng thƣờng xuyên sử dụng hai ngôn ngữ một lúc đƣợc ông rất quan tâm ở công trình này.
Hiện tƣợng giao thoa (interference) giữa các ngôn ngữ đƣợc ông phát hiện và cho rằng: những sai lệch so với chuẩn mực của cả hai ngôn ngữ xảy ra trong lời nói của người song ngữ là do sự quen thuộc của họ đối với ngôn ngữ này hay đối với ngôn ngữ kia hơn. Đó là kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ (language contact) [85]. Ông còn chỉ rõ thêm: “ Sự khác biệt giữa hai hệ thống càng lớn. thì vấn đề gây ra cho việc học và phạm vi giao thoa tiềm năng càng nhiều”.
Tƣ tƣởng của ông sau này đƣợc nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới phát triển thêm khi họ tiến hành so sánh đối chiếu giữa ngôn ngữ và văn hóa của tiếng mẹ đẻ và văn hóa của ngôn ngữ đích để dự báo trƣớc những khó khăn hoặc các lỗi tiềm năng của ngƣời học sẽ mắc phải trong quá trình học ngoại ngữ. Nhƣ vậy, việc tìm hiểu và dự báo trƣớc các lỗi ngƣời học sẽ mắc phải và tìm cách giúp ngƣời học tránh mắc lỗi là rất cần thiết với những ngƣời trực tiếp làm công tác giảng dạy và biên soạn giáo trình. Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu thì hiện tƣợng chuyển di ngôn ngữ - văn hóa là khó có thể tránh đƣợc trong giao tiếp liên ngôn. Họ quan tâm nhiều đến sự khác biệt giữa ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn.
Họ tập trung vào việc dự báo các lỗi tiềm năng do những khác biệt này gây ra và họ không chú ý đến vai trò chủ động tích cực, sáng tạo của ngƣời học cũng nhƣ yếu tố tâm lý khác có tác động trực tiếp đến quá trình học và quá trình sử dụng tiếng của ngƣời học. Lỗi nhìn dưới góc độ ngôn ngữ học tâm lý Cách đánh giá vai trò của lỗi trong quá trình dạy tiếng nói chung đƣợc các nhà tâm lý học và ngôn ngữ học tâm lý rất quan tâm. Sự cách biệt giữa học cái gì 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (What) và học nhƣ thế nào (How) phải đƣợc làm sáng tỏ bằng một lý thuyết giải thích rõ đƣợc quá trình học đƣợc diễn ra nhƣ thế nào. Chính vì thế, Chomsky [61] cho rằng, lý thuyết ngôn ngữ qui định cái phải học nhƣng không qui định đƣợc hoạt động thực tế của quá trình học.Quá trình học chịu sự ảnh hƣởng của các yếu tố bên trong(internal) lẫn các yếu tố bên ngoài (external factors) chứ không hề chỉ có một chiều đơn giản là bắt chƣớc (immitation) và hễ có kích thích là có phản ứng đáp lại.
Các nhà tâm lí học ngôn ngữ khi nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ em trƣớc tuổi dậy thì đã phát hiện ra trẻ em mắc rất nhiều lỗi sáng tạo (creative errors)[68] trong quá trình học tiếng mẹ đẻ. Ngƣời lớn muốn trẻ em học theo những câu nói của họ, nhƣng nhiều khi trẻ em đã tự tạo ra các câu nói hoàn toàn khác với các câu chuẩn mà ngƣời lớn đã từng dạy chúng. Nhƣ vậy, lỗi trong quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em là không thể tránh đƣợc và bản thân các lỗi này sẽ dần dần đƣợc khắc phục và mất đi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ. (2000) đã tán đồng quan điểm này khi nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ.
Cartel [53] đã viết: Ông (Chomsky) cho rằng, hầu hết trẻ em đều thụ đắc đƣợc những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ ở vào thời điểm 4 hoặc 5 tuổi. Thỉnh thoảng chúng bị nhầm lẫn nhƣng đây là những lỗi rất không đáng kể. Nhƣ vậy, quá trình học tiếng và thụ đắc tiếng mẹ đẻ của trẻ em có nhiều điểm rất khác nhau. Krashen (1977) đã nói rõ điều này khi ông phân biệt sự khác nhau giữa học và thụ đắc ngôn ngữ.
Theo ông, thuật ngữ thụ đắc (Acquisition) đƣợc dùng để chỉ quá trình học không có ý thức, quá trình học này không chịu ảnh hƣởng của những hƣớng dẫn chi tiết về hệ thống qui tắc của ngôn ngữ thứ hai hay việc sửa các lỗi sai với hệ thống qui tắc của ngôn ngữ này. Trái lại, học (Learning) là một quá trình có ý thức, đạt đƣợc là do kết quả hƣớng dẫn cụ thể về hệ thống qui tắc của ngôn ngữ thứ hai và việc sửa lỗi. Dulay và Burt (1976) trong công trình nghiên cứu của mình đã phát hiện thấy trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ, ngƣời học thƣờng mắc những lỗi phát triển (developmental errors). Những lỗi này giống như các lỗi trẻ em thường mắc trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất(the first language acquisition [ 5, tr 45].
19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà ngôn ngữ học tâm lý thì quan niệm về lỗi thiên về duy lí (mentalists).