CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN HIỆU ÂM THANH TIẾNG TIM 1. Xử lý tín hiệu y sinh Xử lý tín hiệu y sinh là một trong những chủ đề nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong lĩnh vực kỹ thuật y sinh và y học lâm sàng [1]. Có nhiều loại tín hiệu y sinh như tín hiệu điện tim (ECG), tín hiệu tiếng tim (âm thanh tiếng tim và giản đồ tiếng tim PCG), tín hiệu điện não (EEG), tín hiệu siêu âm, tín hiệu hình ảnh cộng hưởng từ,.
Trong số đó, tín hiệu âm thanh tiếng tim là loại tín hiệu dễ thu, có thể sử dụng các thiết bị đơn giản, rẻ tiền như ống nghe truyền thống [2]. Tín hiệu điện tim và âm thanh tiếng tim Có hai loại tín hiệu y sinh liên quan đến hoạt động của tim liên quan mật thiết với nhau là tín hiệu điện tim và tín hiệu âm thanh tiếng tim. Cả hai đều cho phép phân tích, khảo sát các đặc điểm và hoạt động của tim. Tín hiệu điện tim cho phép phân tích với độ chính xác và tin cậy cao hơn nhưng cũng đòi hỏi chi phí cao hơn.
Tín hiệu âm thanh tiếng tim phân tích với độ chính xác thấp hơn nhưng có chi phí thấp, đơn giản, dễ thu và có thể sử dụng trong các hệ thống hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng. Cả tín hiệu điện tim và âm thanh tiếng tim đều xuất phát từ nguồn gốc là quá trình co bóp của tim và cơ sở sinh lý điện học tế bào tim. Sự liên quan giữa âm thanh tiếng tim và tín hiệu điện tim ECG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở điện học tế bào Mọi thực thể sống trên trái đất đều được cấu thành từ nhiều kiểu tế bào khác nhau.
Ở người, tế bào có đường kính thay đổi trong khoảng từ 1m cho đến 100 m, độ dày của màng tế bào cỡ 0,01m. Ở trạng thái nghỉ, mặt trong màng tế bào tích điện âm, mặt ngoài màng tích điện dương. Sự phân bố điện tích không cân bằng này là kết quả của các phản ứng điện hoá. Điện thế giữa hai lớp điện tích này được gọi là điện thế nghỉ, người ta gọi tế bào ở trạng thái này là trạng thái phân cực, điện thế nghỉ (điện thế phân cực ) giữa hai mặt màng tế bào khoảng -90mV.
Khi tế bào bị kích thích, điện thế mặt ngoài màng tế bào trở nên âm hơn so với điện thế mặt trong màng tế bào, giá trị điện áp giữa hai mặt màng tế bào lúc này vào khoảng + 20mV. Quá trình chuyển từ -90mV lên +20mV gọi là quá trình khử cực (thực chất là sự khuếch tán ion qua màng tế bào). Quá trình tái cực (quá trình phục hồi) diễn ra sau một khoảng thời gian ngắn khi quá trình khử cực kết thúc, đưa tế bào về trạng thái ban đầu (trạng thái nghỉ). Dạng sóng điện thế tế bào được biểu diễn trên hình 1.
Quá trình khử cực sẽ lan truyền từ tế bào này sang tế bào khác cho đến khi toàn bộ các tế bào (cơ tim chẳng hạn) được khử rồi tái cực. Quá trình khử cực và tái cực của tế bào 1. Tín hiệu điện tim (ECG- Electrocardiogram) Tín hiệu điện tim là dòng điện sinh học sinh ra từ quá trình khi tim co bóp diễn ra quá trình “khử cực” và “tái cực” của các tế bào cơ tim. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Điện tâm đồ (Electrocardiogram) là đồ thị ghi những thay đổi của dòng điện trong tim.
Quả tim co bóp theo nhịp được điều khiển của một hệ thống dẫn truyền trong cơ tim. Những dòng điện tuy rất nhỏ, khoảng 1 phần nghìn volt, nhưng có thể dò thấy được từ các cực điện đặt trên tay, chân và ngực bệnh nhân và chuyển đến máy ghi. Máy ghi điện khuếch đại lên và ghi lại trên điện tâm đồ. Điện tâm đồ được sử dụng trong y học để phát hiện các bệnh về tim như rối loạn nhịp tim, suy tim, nhồi máu cơ tim v.
Sự hình thành tín hiệu điện tim Tim là tổ chức cơ rỗng, tại đó sự cơ bóp một cách có thứ tự các sơ sẽ tạo ra áp lực đẩy máy đi qua các bộ phận trên cơ thể. Mỗi nhịp tim được kích thích bởi xung điện từ các tế bào nít xoàn tại tâm nhĩ. Các xung điện truyền đến các bộ phận khác của tim và làm cho tim co bóp. Việc ghi tín hiệu điện tâm đồ là việc ghi lại tín hiệu này.
Tín hiệu điện tâm đồ mô tả hoạt động của điện của tim, và có thể được phân tích thành các thành phần đặc tính có tên là sóng: P, Q, R, S, T, U. Mỗi thành phần này có đặc trưng riêng, đáp ứng riêng, dấu hiệu của nhịp tim riêng nhưng có chung nguồn gốc là các hiện tượng điện sinh vật. Hiện tượng điện sinh vật là quá trình hoá lý, hoá sinh phức tạp xảy ra bên trong và ngoài màng tế. Tổng hợp tất cả các thành phần suất điện động từ mọi tế bào trong tim đã tạo ra một tín hiệu phản ánh hoạt động của cơ tim, người ta gọi là tín hiệu điện tim.
Tín hiệu điện tim có độ lớn thay đổi theo thời gian và khác nhau tại các điểm trên cơ thể người. Bằng cách đo một số điểm trên cơ thể và theo dõi hình dạng sóng thay đổi theo thời gian, người ta có thể giúp nhận biết được một số tình trạng bệnh lý, hoặc chấn thương. Các nghiên cứu về tim đã chỉ ra rằng tín hiệu điện tim có thể được coi như tổ hợp của các sóng có dải tần từ 0 ÷∞. Tuy nhiên để lấy đủ thông tin cho việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chuẩn đoán của bác sỹ, thông thường dải tần được chọn là 0.
Sóng điện tim có biên độ nhỏ, đỉnh lớn nhất cũng chỉ cỡ 1. Đặc điểm của tín hiệu điện tim Tín hiệu điện tim là tín hiệu phức tạp với tần số lặp lại khoảng từ 0. Hình dạng của sóng P, Q, R, S, T, U được mô tả: Hình 1. Điện tâm đồ dạng sóng Đỉnh P được tạo ra bởi sự co cơ của tâm nhĩ.
Sóng P phản ánh quá trình khử cực tâm nhĩ. Khoảng PQ (còn gọi là khoảng PR) phản ánh thời gian dẫn truyền từ tâm nhĩ đến tâm thất. Phức hợp QRS phản ánh quá trình khử cực tâm thất. Tái cực tâm nhĩ đồng thời xảy ra với quá trình tái cực tâm thất, tâm thất nặng hơn tâm nhĩ do đó, quá trình tái cực tâm nhĩ thực chất là sự che đậy bởi sự khử cực tâm thất (QRS).
Đoạn ST phản ánh các giai đoạn ổn định của tâm thất. Sóng T phản ánh quá trình tái cực tâm thất. Về mặt lý thuyết thì tín hiệu này có thể coi như là tổ hợp các hài có dải tần từ 0 đến vô cùng. Quá trình tính toán, phân tích, kể cả đến các trường hợp bệnh lý, trường hợp méo tín hiệu, người ta xác định được dải tần tiêu chuẩn, bảo đảm thể hiện trung thực tín hiệu điện tim là từ 0.
Ở giới hạn trên để bảo đảm phức bộ QRS không bị méo. Giới hạn dưới để đảm bảo trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thực sóng P và T. Xét về dải rộng của tín hiệu thì biên độ của sóng P, Q, R, S, T rất khác nhau. Biên độ các sóng ghi được trong các chuyển đạo mẫu là nhỏ nhất.
Biên độ các chuyển đạo ở lồng ngực là lớn nhất. - Biên độ các sóng P, Q, S nhỏ nhất cỡ 0. - Biên độ lớn nhất là sóng R cỡ 1. - Quãng thời gian tồn tại của sóng là: + P - R: 0.
Máy điện tim Cùng với sự phát triển của kỹ thuật điện tử, các thiết bị điện tử y tế nói chung và thiết bị điện tim nói riêng ngày càng có thêm nhiều tính năng. Việc sử dụng kỹ thuật vi xử lý và ghép nối thiết bị ghi điện tim với mạch điện toán đã nâng cao tính năng và chất lượng của thiết bị. ở mức độ bình thường chúng có thể lưu trữ số liệu, so sánh cập nhật và in các số liệu về điện tim cùng tên tuổi bệnh nhân một cách tự động. ở mức độ cao hơn nữa là chuẩn đoán bệnh (kết hợp với các khám nghiệm khác).
Đồng thời tính an toàn của thiết bị cũng được nâng lên như báo động mất nguồn, dòng dò tăng, điện cực tiếp xúc xấu.Với kích thước gọn nhẹ, giá thành ngày càng hạ, chắc chắn chúng sẽ thâm nhập ngày càng sâu hơn vào các bệnh viện và phòng khám bệnh, không chỉ ở các bệnh viện, trung tâm y tế lớn mà còn ở các tuyến dưới, tương lai có thể đến tận các tuyến cơ sở. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sơ đồ khối máy ghi điện tim dùng vi xử lý Hình 1. trình bày sơ đồ khối của một thiết bị ghi điện tim sử dụng vi xử lý.
Thiết bị ghi điện tim ghép nối với máy điện toán cũng có sơđồ như vậy. Trong máy điện toán cũng dùng vi xử lý. P là bộ vi xử lý thực hiện các lệnh toán học, logic và chuyển dữ liệu.RAM là bộ nhớ tạm thời, ROM là bộ nhớ chỉ đọc. Vi xử lý và máy điện toán chỉ làm việc với các đại lượng số (đếm được) khác với khái niệm điện tim mà chúng ta đang xét ở trên là đại lượng liên tục (tương tự).
Vì thế tín hiệu điện tim trước khi đưa vào vi xử lý hay máy điện toán phải chuyển đổi sang dạng số. Thông tin này là dữ liệu về điện tim. Cũng không thể lấy quá nhiều dữ liệu. Cứ cách một khoảng thời gian nào đó người ta mới lấy tín hiệu điện tim đưa vào bộ chuyển đổi ra dạng số.
Bộ chuyển đổi này gọi là bộ chuyển đổi tương tự số (A/D). Khoảng thời gian lặp lại đó gọi là chu kỳ lấy mẫu. Tần số lấy mẫu bằng nghịch đảo của chu kỳ lấy mẫu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ta đã biết rằng phức bộ của sóng điện tim bao gồm sóng P, Q, R, S, T.
Khoảng cách QRS là hẹp nhất khoảng 0.12 giây, nếu chu kỳ lấy mẫu là 0.