Chương 1 SỰ RA ĐỜI “PHÂN KHU NAM” CỦA QUÂN KHU 5 1. Tình hình chiến trường Quân Khu 5 và các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đăk Lăk những năm 1963-1964 1. Âm mưu “càn quét và bình định” của Mỹ Tháng 12-1963, kế hoạch quân sự Xtalây-Taylo của Mỹ bị phá sản. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra sang miền Nam Việt Nam thị sát tình hình, điều chỉnh chiến lược, rút bớt đồn bốt không cần thiết, tập trung xây dựng những đơn vị cơ động, tiến hành “bình định” có trọng điểm; về quân sự triệt để sử dụng quân dù và chiến thuật “phượng hoàng bay”.
Lực lượng quân sự địch ở Nam Trung Bộ tiếp tục tăng, đến giữa năm 1964 có trên 200. Chúng dùng phần lớn quân cộng hòa, toàn bộ lực lượng bảo an, dân vệ với chiến thuật phổ biến là “trực thăng vận” và “thiết xa vận” để đánh phá phong trào, gom dân lập ấp chiến lược. Các khu dồn dân lớn đổi tên là “ấp tân sinh”. Địch vừa khủng bố ác liệt, vừa dùng nhiều thủ đoạn dụ dỗ, như lập trạm xá, trường học, tổ chức cứu tế, bán nhiều máy bơm, máy cày “viện trợ Mỹ” [52, tr.
Sang tháng 2-1964, kế hoạch Mắc Na-ma-ra bắt đầu triển khai đánh phá các tỉnh ven biển từ Quảng Đà đến Phú Yên, trọng điểm là dùng lực lượng 3 chiến đoàn, lập các khu dồn dân quy mô lớn, thực hiện kế hoạch bình định vùng giải phóng trong vòng 12 tháng. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, địch củng cố hệ thống ấp chiến lược, tăng cường bộ máy kìm kẹp, truy phá cơ sở cách mạng. Địch tăng cường sử dụng lực lượng tay sai cũ của Ngô Đình Diệm (bị loại ra trong cuộc đảo chính tháng 11-1963) và Quốc dân Đảng, Đại Việt mới ngóc đầu dậy để kìm kẹp 8 quần chúng, phong trào cách mạng của ta. Trong 6 tháng đầu năm 1964, địch lập thêm 100 ấp chiến lược ở đồng bằng, lấn chiếm gần 1/2 số dân vùng giải phóng, gom dân 200 làng ở miền núi.
Ở Nam Trung Bộ, chúng gấp rút xây dựng một loạt căn cứ quân sự, cơ sở hậu cần không chỉ cho cuộc chiến tranh ở miền Nam mà cho cả chiến trường ba nước Đông Dương và một phần cho cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Dọc chiều dài hơn 1000km, từ vĩ tuyến 17 đến giáp Đông Nam Bộ, quân Mỹ thiết lập một loạt căn cứ quân sự, sân bay, cảng biển, kho dự trữ hậu cần: Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Gò Quánh, Quy Nhơn, Đông Tác, Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Chữ, Thành Sơn… trung bình khoảng 100km có một căn cứ, quân Mỹ sẽ mở rộng hoạt động và nối liền thành một dải liên hoàn. Ở các tỉnh Tây Nguyên, Mỹ khẩn trương tăng cường xây dựng và mở rộng các sân bay và căn cứ hậu cần ở An Khê, Plâycu, Kon Tum, Đắc Tô, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, đặt ống dẫn dầu từ Quy Nhơn đi Plâycu, xây đài truyền tin hiện đại trên điểm cao 2000m ở núi Bà (Đà Lạt). Trước khi được đưa sang miền Nam Việt Nam, các đơn vị quân Mỹ đều được chỉnh đốn biên chế, cải tiến trang bị, đặc biệt là tăng cường phương tiện vận tải đường hàng không.
Tiểu đoàn bộ binh có 850 quân, Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 1. Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 mới thành lập theo “sáng kiến” của Mắc Na-ma-ra, là sư đoàn kỵ binh không vận đầu tiên và duy nhất của nước Mỹ, có 16.000 quân và 465 máy bay lên thẳng. Theo các chuyên gia quân sự Mỹ, sư đoàn này có sức cơ động nhanh, có thể đổ quân vào mọi nơi và mọi thời điểm; có khả năng tạo ra thay đổi lực lượng so sánh có lợi cho quân Mỹ vào lúc quyết định của trận đánh. Quân Nam Triều Tiên được trang bị đưa sang Việt Nam và huấn luyện đặc biệt về thủ đoạn chống du kích và khủng bố nhân dân để bình định nông thôn, lực lượng này hết sức dã man.
Nghị quyết Trung ương Đảng về “tình hình và nhiệm vụ mới” Trước tình hình khó khăn, tháng 12-1963 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 (khóa III) tiến hành họp và đã nhận định lực lượng tiềm tàng của cách mạng miền Nam là vô cùng to lớn. Sự lãnh đạo của Trung ương, Bộ chính trị và các cấp ủy ở chiến trường là hoàn toàn đúng đắn và có nhiều sáng tạo. Hội nghị vạch phương hướng cho cách mạng miền Nam trong tình hình mới và nhấn mạnh phải “kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đều đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết định” nhưng “đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp” [52, tr. 323 ] trong việc đánh tan lực lượng quân sự - chỗ dựa nền thống trị của địch, làm cho cách mạng thắng lợi.
Để thực hiện yêu cầu đó “điều quan trọng nhất, quyết định nhất là trong bất cứ trường hợp nào, vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự” [52, tr. Về nhiệm vụ trước mắt, Hội nghị xác định hai nội dung chủ yếu và cũng là hai mục tiêu chủ yếu phải quyết tâm đạt cho bằng được là: “tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tạo điều kiện làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân sự, chỗ dựa chính của Mỹ và tay sai ở miền Nam; Làm thất bại kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch, phá phần lớn các ấp chiến lược, giành nhân, tài, vật, lực cho cách mạng, làm chủ rừng núi và phần lớn đồng bằng” [52, tr. Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển lực lượng chính trị, vũ trang, chú trọng xây dựng bộ đội chủ lực, tăng cường thực lực kinh tế. Sau hội nghị Trung ương 9, Quân ủy Trung ương họp bàn công tác chỉ đạo và biện pháp tăng cường chi viện cho chiến trường.
Bộ Tư lệnh Hải quân giao cho Đoàn 125 tiếp tục đưa hàng chi viện vào Nam theo đường biển, chủ yếu là vào các tỉnh Nam Bộ, đồng thời nghiên cứu mở tiếp các bến ở cực Nam Trung Bộ và Khu 5 khi thời cơ thuận lợi. Trung ương tăng cường, bổ sung cho Khu 5 một số tiểu đoàn bộ binh, 10 phòng không, Bộ Tư lệnh Quân Khu 5 tổ chức lại lực lượng vũ trang gồm 2 Trung đoàn, 1 Tiểu đoàn độc lập, 2 Tiểu đoàn đặc công và 1 Tiểu đoàn phòng không. Bộ đội địa phương có 7 Tiểu đoàn và 1 Liên đội, du kích có 40. Bộ Chính trị quyết định đồng chí Chu Huy Mân, Ủy viên Trung ương Đảng làm Phó Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân Khu 5 (4 - 1964).
Đến giữa năm 1964, đường Trường Sơn chủ yếu chi viện cho Tây Nguyên và vùng giáp ranh của Liên Khu 5. Việc vận tải bằng đường bộ cực kỳ khó khăn do sự đánh phá ác liệt của kẻ địch. Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương phối hợp toàn miền Nam do Trung ương Cục phát động, Bộ Tư lệnh Quân Khu 5 mở rộng hoạt động của các lực lượng vũ trang trong 6 tháng cuối năm 1964 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, phá ấp chiến lược. Phong trào đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị phát triển, nhu cầu vũ khí chiến đấu càng cấp thiết đối với Khu 5.
Các tỉnh Khu 5 báo cáo khẩn thiết đề nghị Trung ương chi viện vũ khí. Việc cung cấp vũ khí cho Khu 5 trở thành một nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết. Sau hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị chủ trương tổ chức lại chiến trường, tăng cường lực lượng cho miền Nam Trung Bộ, giải thể khu X, điều chỉnh địa bàn Khu 6 gồm các tỉnh: Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Quảng Đức, Tuyên Đức, Phước Long. Cơ quan Khu 6 đứng ở lưu vực sông Đồng Nai (giữa Lâm Đồng và Phước Long), đồng chí Trần Lê làm Bí thư khu ủy.
Tỉnh Khánh Hòa, Đăk Lăk trực thuộc Khu ủy 5, đồng chí Võ Chí Công, phó Bí thư Trung ương cục miền Nam, về làm Bí thư Khu ủy 5. Về chỉ đạo, Khu 5 trực thuộc Trung ương, Khu 6 trực thuộc Trung ương Cục miền Nam [52, tr. Tháng 5-1964, Trung ương thành lập Mặt trận Tây Nguyên (mật danh B3) với nhiệm vụ đề ra lúc đầu là đánh tiêu diệt địch, giải phóng Tây Nguyên; sau đó, chuyển lại tiêu diệt vừa và lớn quân địch, thu hút, giam chân lực 11 lượng cơ động của địch, tạo điều kiện cho các tỉnh đồng bằng tiến công và nổi dậy diệt địch giải phóng nông thôn, phối hợp chiến trường Trị - Thiên, miền Đông Nam Bộ tiêu diệt địch trong những thời điểm chiến lược, xây dựng căn cứ địa cách mạng miền Nam và Đông Dương. Tình hình Quân Khu 5 và các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, ĐăkLăk Tại chiến trường Khu 5, một trong những trọng điểm đánh phá của địch, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung ở đây hơn một nửa tổng số quân Việt Nam cộng hòa (từ 182.
Riêng quân chủ lực, Mỹ đã dồn về Nam Trung Bộ 6/9 sư đoàn, ngoài ra còn có Sư đoàn 5 “Nùng” đóng tại sông Mao (Bình Thuận). Trong thời gian này, lực lượng địch tập trung thành từng tiểu đoàn, trung đoàn kết hợp với bảo an, dân vệ, cảnh sát đánh phá lùng sục dân vào vùng chúng đã kiểm soát hoặc lập ấp chiến lược tại chỗ dân cư đang sinh sống. Thôn xóm, ruộng đồng không lúc nào ngớt tiếng bom pháo địch. Nhà cửa bị đốt cháy, ruộng đồng bị xe tăng, xe bọc thép cày bới.
Người dân đang sống yên lành tại quê mình đã bị đưa lên xe chở đến tập trung các ấp chiến lược bao quanh thị trấn, thị xã để làm rào che chắn cho chúng. Thủ đoạn càn quét đánh phá khốc liệt của địch khiến cho vùng căn cứ và vùng làm chủ của ta luôn căng thẳng, nhân dân và lực lượng vũ trang phải ngày đêm chiến đấu liên tục với địch. Phía địch, từ giữa năm 1963, “Uỷ ban bình định” do Ngô Đình Nhu đứng đầu ra thông báo: dồn thêm 7 triệu dân vào trong 7.025 ấp chiến lược, tuyên bố đã hoàn thành kế hoạch dồn dân. Trong lúc kẻ thù cho rằng “Việt Cộng như cá bị tách khỏi nước”, thì chính lúc đó cán bộ cách mạng của ta đang nằm trong các ấp chiến lược, đang cùng với nhân dân bàn tính kế phá ấp chiến lược bằng lối “hoa nở trong lòng”, “trong phá ra, ngoài phá vào”.
Lòng 12 dân chính là điều mà kẻ địch không thể nào hiểu và chúng không bao giờ kiểm soát được.