Mở đầu nghiên cứu này là bài viết “Sức sáng tạo của một tài năng” của Lý Hoài Thu, đồng thời với việc khái quát cuộc đời của Lưu Quang Vũ, công trình đã cung cấp cho người tiếp nhận những đặc điểm trong kịch của Lưu Quang Vũ như xung đột kịch, nhân vật kịch, ngôn ngữ kịch. Cùng với đó, có thể điểm tên những bài báo như: “Kịch Lưu Quang Vũ - những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người” của Phan Trọng Thưởng đăng trên Tạp chí Văn học (số 5/1986) [91]; “Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ” của Phan Ngọc [86, tr. 154-161], “Mô-li-e ở Việt Nam tên là Lưu Quang Vũ” của Christian Hoche [86, tr. Những nghiên cứu này, cho người đọc cái nhìn khái quát về tư tưởng và triết lí sống mà Lưu Quang Vũ gửi gắm trong tác phẩm của mình.
Ngoài ra, một số công trình chuyên sâu như luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Thanh Hoài (2003) với đề tài “Đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ” [38], và Lê Ngọc Mai (2015) với đề tài luận văn thạc sĩ “Kịch Lưu Quang Vũ và Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ đặc trưng thể loại” [54]. đã khái quát về nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch, xung đột 13 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 22 of 98. kịch và ngôn ngữ kịch của Lưu Quang Vũ. Có thể thấy, Lưu Quang Vũ là một tác giả được các nhà nghiên cứu văn học quan tâm.
Các sáng tác kịch của ông được tìm hiểu chuyên sâu từ nhiều góc độ như từ các tác phẩm riêng lẻ đến đặc điểm hệ thống các tác phẩm. Ở góc độ tìm hiểu nào, tài năng sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ cũng được các nhà nghiên cứu ghi nhận. Những nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ dưới góc độ ngôn ngữ học Ở góc độ ngôn ngữ học, các sáng tác của Lưu Quang Vũ cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trước hết, có thể kể đến các luận văn nghiên cứu về sự kiện lời nói trong kịch của Lưu Quang Vũ như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thúy (2009) với đề tài “Sự kiện lời nói phê phán trong kịch Lưu Quang Vũ” [92], và các đề tài về hội thoại trong kịch của Lưu Quang Vũ như luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Vân (2009): “Vận động hội thoại trong vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ” [101], luận án tiến sĩ của Đàm Thị Ngọc Ngà (2016) – “Cặp thoại hỏi – trả lời, cầu khiến – hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ” [57]… Luận án “Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch Lưu Quang Vũ” [1] của Trần Lan Anh (2017) đã phác hoạ nên bức tranh ý niệm về ba phạm trù lớn trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ: Cuộc đời, tình yêu và con người, từ việc miêu tả, phân tích ánh xạ giữa miền Nguồn - miền Đích, những tương đồng và khác biệt của cùng một mô hình ẩn dụ ở hai thể loại.
Điều này giúp chúng ta hình dung được một cách toàn cảnh những phương diện và thuộc tính trong hệ thống ẩn dụ mà Lưu Quang Vũ thể hiện. Đồng thời, việc phân tích các mô hình ẩn dụ trong thơ và kịch còn giúp độc giả - những người yêu thích tác phẩm Lưu Quang Vũ nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy, khám phá thế giới của tác giả phản chiếu qua ngôn ngữ, từ đó nhận ra phong cách riêng của tác giả cùng những sáng tạo nghệ thuật được xây dựng từ nền tảng của văn học dân tộc và nhân loại. Qua phần trình bày trên, có thể thấy lập luận là đối tượng nhận được sự quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tìm hiểu chuyên sâu về lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.
Với đề tài Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ, chúng tôi hi vọng góp phần hoàn thiện hơn những hiểu biết về Lưu Quang Vũ và các tác phẩm kịch của ông từ hướng tiếp cận của lí thuyết lập luận. 14 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 23 of 98. Khái quát về lập luận 1. Khái niệm lập luận Theo nghĩa từ điển, “lập luận” là “sắp xếp lí lẽ một cách có hệ thống để trình bày, nhằm chứng minh cho một kết luận về một vấn đề” [63, tr.
Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ học C. Platin (dẫn theo [39, tr. 9]), lập luận là một thao tác dựa vào một phát ngôn được đảm bảo (được chấp nhận), được gọi là luận cứ, để đạt tới một phát ngôn khác, ít chắc chắn hơn (ít được chấp nhận hơn), còn được gọi là kết luận. Từ đó có thể hiểu: lập luận là người nói đưa ra một luận cứ, hay một lí lẽ để dẫn dắt người nghe chấp nhận một kết luận, hay một cách ứng xử phù hợp.
Lập luận gồm hai yếu tố cơ bản: luận cứ và kết luận, được ông trình bày theo sơ đồ: Luận cứ Kết luận. Tác giả Nguyễn Đức Dân (1993) trong cuốn “Ngữ dụng học”, tập 1, NXB Giáo dục, đã định nghĩa: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (/một số) kết luận hay chấp nhận một (/một số) kết luận nào đó” [13, tr. Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học (tập 2, Ngữ dụng học), tác giả Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng: “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [8, tr.
155] và tiêu chí để xác định một lập luận là kết luận. “Hễ tìm ra được một kết luận thì ta có một lập luận” [8, tr. Theo tác giả Diệp Quang Ban (2009), lập luận - với cách hiểu là sự lập luận hay việc lập luận - là “việc đưa ra những luận cứ (căn cứ để lập luận) nhằm đạt đến một kết luận nào đó (mang tính thuyết phục)”. Đồng thời, lập luận còn được hiểu “là sản phẩm của quá trình lập luận, tức chỉ toàn bộ cái kiến trúc (construction) gồm các bộ phận cấu thành có quan hệ với nhau do sự lập luận tạo ra” [2, tr.
Theo đó, một lập luận có ba bộ phận gồm: luận cứ, kết luận và quan hệ lập luận. Có thể thấy, quan điểm về lập luận của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ không có sự mâu thuẫn với nhau. Và từ các quan điểm trên, có thể hiểu: Lập luận là hành động đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận nào đó mà người 15 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 24 of 98. nói muốn đạt tới.
Đồng thời, lập luận cũng được dùng để chỉ thành phần của quá trình lập luận gồm luận cứ, kết luận, quan hệ lập luận, các chỉ dẫn lập luận (tác tử, kết tử) và lẽ thường. Những định nghĩa về lập luận của các nhà ngôn ngữ học nêu trên cho thấy cần thiết phải phân biệt lập luận với suy diễn (logic) cũng như lập luận với thuyết phục. Lập luận và suy diễn logic Ở lập luận logic, kết đề là hệ quả tất yếu của các tiền đề và của thao tác suy diễn, tính đúng sai của kết đề do tính đúng sai của các tiền đề quyết định. Trong lập luận đời thường, lẽ thường - căn cứ của lập luận, không phải là một chân lí khoa học, khách quan mà là những kinh nghiệm sống, có thể tương đồng nhưng cũng có thể trái ngược nhau.
Bởi lẽ thường có thể trái ngược nhau nên trong lập luận đời thường có phản lập luận. Dưới đây là một tam đoạn luận điển hình, thường được dẫn để minh họa cho kiểu lập luận diễn dịch logic: “Tất cả mọi người đều phải chết. (Đại tiền đề) Socrate là người. (Tiểu tiền đề) Socrate phải chết.
166] Kết luận “Socrate phải chết” là điều không thể bác bỏ vì đại tiền đề và tiểu tiền đề đã đúng. Dạng lập luận logic nêu trên có sự khác biệt cơ bản với lập luận đời thường xét trên phương diện khả năng bị phản bác lại. Thí dụ, dựa trên lẽ thường đẹp trai, giàu có thì tốt, có thể hình thành lập luận sau: (2) Anh ấy vừa đẹp trai vừa giàu (p), chọn làm người yêu được đấy bạn ạ (r). Nhưng khi căn cứ vào lẽ thường đẹp trai, giàu có thường đào hoa thì lập luận sau cũng hợp lí: (3) Anh ấy vừa đẹp trai vừa giàu (p), đừng yêu (- r).
Bàn về lập luận đời thường và lập luận logic, Nguyễn Đức Dân chỉ rõ: lập luận logic hướng tới một đích về giá trị chân lí, trả lời cho các câu hỏi như: Có hay không một sự vật? Sự vật đó có như thế hay không? Điều đó đúng hay sai? Loại lập luận này đòi hỏi phương pháp suy luận hình thức, theo những khuôn mẫu suy luận chặt chẽ trong các khoa học chính xác và thường được sử dụng trong các công trình khoa 16 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 25 of 98. Lập luận đời thường thì hướng tới đích về tính hiệu quả, đặt ra mục tiêu dẫn dắt, lôi kéo hoặc thuyết phục quần chúng hướng theo những điều mà mình đề ra và từ bỏ xác tín cũ của họ. Theo đó, lập luận cũng cần được phân biệt với thuyết phục. Lập luận và thuyết phục Lập luận là trình bày lí lẽ của mình, còn thuyết phục là làm cho người khác tin và theo mình, chấp nhận sự đúng đắn của một ý kiến, tin vào tính chân thực của một sự việc.
Theo Aristot (dẫn theo [8, tr. 164]), có ba yếu tố giúp cho một lập luận thành công, gây được hiệu quả là: a) logos - nhân tố lí lẽ; b) patos - nhân tố xúc cảm; c) ethos - nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lí, dân tộc, văn hóa của người tiếp nhận. Lập luận là hành động hướng đích thuyết phục nhưng có thuyết phục được hay không lại phụ thuộc vào sự hội tụ của các nhân tố nêu trên. Lập luận chỉ là một điều kiện để thuyết phục.