Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu làm giàu hệ bùn quá trình canon trên nền bùn hạt kỵ khí

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kỹ thuật môi trường nghiên cứu làm giàu hệ bùn quá trình canon trên nền bùn hạt kỵ khí bằng nước rỉ, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

102
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) đang trở thành một thách thức lớn đối với Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Theo báo cáo, CTRSH tăng trung bình 12% mỗi năm từ 2011 đến 2015. Phương pháp chôn lấp hiện nay chiếm 80% do chi phí thấp nhưng lại dẫn đến việc phát sinh nước rỉ rác có nồng độ ammonia cao. Việc xử lý nước rỉ rác này cần được chú trọng, đặc biệt là qua các công nghệ như quá trình CANON, kết hợp giữa nitrit hóa bán phần và anammox. Đề tài này sẽ nghiên cứu làm giàu hệ bùn anammox nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nitơ trong nước rỉ rác cũ.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là làm giàu bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí bằng công nghệ tuần hoàn nội bộ (IC). Nghiên cứu cũng nhằm đánh giá hiệu quả xử lý nitơ của bể phản ứng tầng sôi CANON ở các tải trọng nitơ khác nhau. Việc này sẽ giúp cải thiện quy trình xử lý nước rỉ rác cũ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế trong xử lý nước thải.

1.2. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm bùn anammox và nước rỉ rác cũ từ bãi chôn lấp Gò Cát. Nước rỉ rác này có nồng độ ammonia cao, cần được xử lý hiệu quả. Nghiên cứu sẽ thực hiện trong phòng thí nghiệm tại Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc Gia TP.HCM, nơi có các thiết bị và điều kiện cần thiết cho việc thực hiện thí nghiệm.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các thí nghiệm trong 270 ngày, bao gồm ba giai đoạn chính: làm giàu bùn anammox bằng mô hình IC, thích nghi bùn anammox và AOB trong bể phản ứng tầng sôi CANON, và xác định các thông số như kích thước hạt, sinh khối và hoạt tính riêng của vi khuẩn. Mô hình IC được thiết kế để tối ưu hóa quá trình làm giàu bùn anammox, trong khi bể phản ứng CANON sẽ được sử dụng để xử lý nitơ hiệu quả hơn.

2.1. Mô hình thí nghiệm

Mô hình thí nghiệm được thiết kế với sự kết hợp giữa công nghệ tuần hoàn nội bộ và bể phản ứng tầng sôi. Mô hình này cho phép kiểm soát các yếu tố như pH, nhiệt độ, và tải trọng nitơ, nhằm tối ưu hóa điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn anammox. Các thông số này được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình thí nghiệm để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

2.2. Phân tích và xử lý số liệu

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm việc sử dụng các chỉ số sinh học và hóa học để đánh giá hiệu quả xử lý nitơ. Các thông số như nồng độ ammonia, nitrit, và nitrat sẽ được đo lường định kỳ để theo dõi hiệu suất của hệ thống. Kết quả sẽ được xử lý bằng các phương pháp thống kê để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả thí nghiệm cho thấy hiệu suất xử lý ammonium đạt được là 33,7% trong giai đoạn làm giàu bùn anammox. Sau khi thích nghi, hiệu suất xử lý ammonium và tổng nitơ ở tải trọng 0,94 kg N/m3.ngày đạt 47,4 ± 12,4%. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, nồng độ sinh khối giảm do sự cố nồng độ FA cao, dẫn đến hiệu suất xử lý giảm. Điều này cho thấy quá trình làm giàu bùn anammox cần thời gian dài và phải được kiểm soát chặt chẽ để đạt hiệu quả tối ưu.

3.1. Hiệu quả xử lý

Hiệu quả xử lý nitơ trong quá trình nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các tải trọng nitơ khác nhau. Tại tải trọng 0,94 kg N/m3.ngày, hiệu suất xử lý ammonium đạt tối đa, nhưng khi tải trọng giảm, hiệu suất cũng suy giảm. Điều này cho thấy cần thiết phải cân nhắc tải trọng nitơ phù hợp để duy trì hiệu suất xử lý cao nhất.

3.2. Tác động môi trường

Nghiên cứu này không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả xử lý nước rỉ rác mà còn có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ môi trường. Việc xử lý nước rỉ rác cũ giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước, đồng thời tạo điều kiện cho việc phát triển bền vững trong quản lý chất thải. Các kết quả từ nghiên cứu có thể áp dụng cho các khu vực khác có tình hình tương tự.

05/01/2025
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật môi trường nghiên cứu làm giàu hệ bùn quá trình canon trên nền bùn hạt kỵ khí bằng nước rỉ rác cũ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, hàng loạt các vấn đề môi trường nảy sinh, trong đó chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh ngày càng tăng đã góp phần gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016”, CTRSH tăng trung bình 12% mỗi năm từ năm 2011 - 2015. Tại Việt Nam, các công nghệ xử lý CTRSH phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ và đốt, trong đó phương pháp chôn lấp chiếm 80% do chi phí đầu tư và vận hành thấp so với các phương pháp khác được áp dụng.

Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp CTRSH chưa được phân loại tại nguồn, có thành phần hữu cơ cao nên tính ổn định thấp, phát sinh lượng lớn nước rỉ rác. Nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp có nồng độ ammonia cao và chất hữu cơ chậm hoặc không phân huỷ sinh học. Đặc biệt, đối với các bãi chôn lấp đã hoạt động lâu năm hoặc đã đóng cửa, nước rỉ rác phát sinh có nồng độ ammonia rất cao, đạt 3. Theo Chen và cộng sự, (1996), ammonia trong nước rỉ rác có nồng độ trên 1.

So với quy chuẩn QCVN 25:2009/BTNMT về nước thải của bãi chôn lấp chất thải rắn, nồng độ ammonia cho phép xả thải ra môi trường là 25 mg N/L. Như vậy, lượng ammonia cần xử lý là rất lớn. Tỉ lệ C:N và những chất có khả năng phân hủy sinh học thấp, chính là thách thức cho việc xử lý nước rỉ rác. Xử lý sinh học được sử dụng làm công trình chính trong hệ thống xử lý nước rỉ rác, điển hình là quá trình nitrat hóa và khử nitrat.

Tuy nhiên, nồng độ C:N thấp, cần có nguồn carbon để bổ sung cho quá trình này, do đó làm cho quá trình vận hành phức tạp hơn và tốn kém nhiều chi phí. Thay thế cho việc bổ sung nguồn carbon tốn kém nhiều chi phí, quá trình CANON (Completely Autotrophic Nitrogen Removal Over Nitrite) là sự kết hợp giữa quá trình nitrit hóa bán phần và anammox trong cùng một bể phản ứng (Strous M và cộng sự, 1997). Quá trình này có khả năng loại ammonia trong nước thải với tải trọng cao mà không sử dụng nguồn carbon hữu cơ (Helmer C, 2001). Vy (2017) đã thực hiện đề tài “Ứng dụng quá trình CANON để xử lý nitơ trong nước thải chăn nuôi sau bể biogas”, giai đoạn làm giàu bùn AOB và anammox trong mô hình CANON với nước thải nhân tạo trong 5 tháng vận hành ở tải trọng 0,2 kgN/m3.ngày 2 cho hiệu suất xử lý ammoni đạt 82-94%, giai đoạn vận hành nước thải chăn nuôi gia súc sau biogas trong 3,5 tháng ở tải trọng nitơ 0,47 ± 0,07 với thời gian lưu nước 16h cho hiệu suất xử lý tổng nitơ (TN) lần lượt đạt 72 ± 10%, cực đại 88% và ở tải trọng nitơ 0,95 ± 0,11 kg N/m3.ngày với thời gian lưu nước 8h, %TN là 78 ± 14%, cực đại 91%.

Sau khi kết thúc tải trọng 0,95, giảm thời gian lưu nước còn 4h, mô hình gặp sự cố sốc tải bùn nổi và trôi bùn. Hà (2018) đã thực hiện đề tài “Ứng dụng quá trình CANON để khử nitơ trong nước rỉ bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt cũ” vận hành giai đoạn thích nghi với nước rỉ rác cũ 92 ngày ở tải trọng 0,34 kg N/m3.ngày với hiệu suất xử lý ammonia đạt cực đại 97%, giai đoạn tăng tải 61 ngày với các tải trọng nitơ (NLR) 0,25; 0,41; 0,52 kg N/m3.ngày với hiệu suất xử lý ammonia và tổng nitơ lần lượt đạt 82% và 56%; 90% và 67%; 82% và 76% tương ứng với mỗi tải trọng và 41 ngày khắc phục sự cố sốc tải ở tải trọng 0,85 kg N/m3. Từ kết quả của những nghiên cứu đó, nhận thấy ứng dụng quá trình CANON bằng bể phản ứng xáo trộn hoàn toàn có nhiều nhược điểm về thiết kế thổi khí và phần lắng dẫn đến ảnh hưởng xấu đến vi sinh anammox trong quá trình vận hành ở tải trọng cao. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu làm giàu hệ bùn quá trình CANON trên nền bùn hạt kỵ khí bằng nước rỉ rác cũ” được thực hiện nhằm mở rộng đề tài nghiên cứu của Hà (2018).

Quá trình làm giàu này được thực hiện trong cột tuần hoàn nội bộ IC cho thích nghi bùn anammox và bể phản ứng tầng sôi CANON cho hỗn hợp bùn anammox và AOB. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài gồm các mục tiêu: - Nghiên cứu làm giàu hệ bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí sử dụng công nghệ IC. - Đánh giá hiệu quả xử lý nitơ của bể phản ứng tầng sôi CANON ở các tải trọng nitơ khác nhau để xử lý nước rỉ rác cũ. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu làm giàu bùn anammox được thực hiện bằng mô hình tuần hoàn nội bộ IC và thích nghi bùn anammox và bùn AOB trong bể phản ứng tầng sôi CANON, đặt tại Phòng thí nghiệm khoa Môi trường, trường Đại học Bách Khoa Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh với nguồn nước thải và bùn thải được lấy từ: 3 - Nước rỉ rác cũ được lấy từ bãi chôn lấp Gò Cát đã đóng cửa từ năm 2007, nằm ở Quốc lộ 1A, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân.

- Nước rỉ rác sau quá trình nitrit hóa bán phần được lấy từ mô hình bể nitrit hóa bán phần theo mẻ luân phiên PN - SBR của Tuấn (2018). - Bùn hạt kỵ khí được lấy từ hệ thống xử lý nước thải của Công ty Cổ phần Giấy Sài Gòn, KCN Mỹ Xuân A2, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Bùn anammox được lấy từ mô hình tuần hoàn nội bộ IC quy mô pilot trong nghiên cứu của Toàn (2018). - Bùn AOB được lấy từ hệ thống xử lý nước thải của Công ty Cổ phần Thanh Nhân Food, 111/17 Lũy Bán Bích, Tân Thới Hoà, Tân Phú, Hồ Chí Minh.

Nội dung nghiên cứu Để đáp ứng các mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu bao gồm: - Làm giàu bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí bằng mô hình IC sử dụng nước rỉ rác sau quá trình nitrit hóa bán phần ở tải trọng nitơ là 2,0 kg N/m3. - Thích nghi sinh khối trong bể phản ứng tầng sôi CANON ở các tải trọng 0,94; 0,64 và 0,29 kg N/m3. - Xác định kích thước hạt, SEM, EDS, sinh khối và hoạt tính riêng của bùn anammox, AOB và NOB ở các tải trọng. Phương pháp nghiên cứu  Thu thập, tham khảo tài liệu Thu thập, tổng hợp các tài liệu, các nghiên cứu về quá trình IC, quá trình anammox, quá trình CANON và các quá trình khác ứng dụng quá trình kết hợp Nitrit hóa bán phần và anammox để xử lý nitơ trong nước rỉ rác.

 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình Nghiên cứu trên mô hình thí nghiệm làm giàu bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí với nước rỉ rác cũ sau quá trình nitrit hóa bán phần bằng mô hình tuần hoàn nội bộ IC. Thích nghi sinh khối trong bể phản ứng tầng sôi CANON và vận hành xử lý nitơ.  Phương pháp lấy mẫu Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước thải được phân tích trong suốt quá trình xử lý: pH, DO, độ kiềm, NH4+-N, NO2--N, NO3--N, TKN, COD. 4 Các thông số đánh giá chất lượng bùn: MLSS, MLVSS, được xác định định kỳ trong quá trình xử lý; thí nghiệm xác định hoạt tính bùn được thực hiện ở đầu và cuối thí nghiệm.

Các thông số đánh giá cấu tạo bùn: phân bố kích thước hạt, SEM, EDS.  Phương pháp phân tích và xử lý số liệu Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: toàn bộ kỹ thuật lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu môi trường được tiến hành theo đúng các quy định của tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế (Standard Methods Methods for the Examination of Water and Wastewater). Các số liệu kết quả thí nghiệm được phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.

Tính khoa học Kết quả nghiên cứu thể hiện khả năng làm giàu bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí bằng mô hình IC và khả năng xử lý nitơ trong nước rỉ rác cũ của quá trình CANON. Xác định các yếu tố ảnh hưởng trong giai đoạn làm giàu bùn và giai đoạn thích nghi. Tính thực tiễn Kết quả của nghiên cứu cho thấy tính khả thi của việc làm giàu bùn anammox của mô hình IC và khả năng xử lý nitơ trong nước rỉ rác cũ của mô hình CANON. Tính mới của đề tài Nghiên cứu làm giàu hệ bùn của quá trình CANON trên nền bùn hạt kỵ khí để xử lý nước thải rỉ rác cũ là đề tài mở rộng của nghiên cứu: “Ứng dụng quá trình CANON để khử nitơ trong nước rỉ bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt cũ” của Hà (2018), bằng cách thay đổi từ bể phản ứng xáo trộn hoàn toàn thành bể phản ứng tầng sôi.

Tổng quan về nước rỉ rác cũ Thành phần hoá học trong nước thải thấm ra từ bãi rác sinh hoạt (chủ yếu là rác hữu cơ) phụ thuộc vào mức độ phân huỷ của rác: điều kiện thời tiết, độ ẩm và tuổi của bãi rác. Thành phần hoá học của nước rác trước hết phụ thuộc vào mức độ phân huỷ của rác (nhiệt độ, độ ẩm, tuổi, điều kiện môi trường). Nước thải từ các bãi rác với mức độ phân huỷ thấp (mới, mùa khô, lạnh) đang trong giai đoạn axit hoá thì 80 - 90% chất hữu cơ trong đó là các axit hữu cơ dễ bay hơi có khả năng sinh huỷ cao. Ngược lại nước thải từ bãi rác có độ phân huỷ sâu (giai đoạn tạo khí metan đang và sắp kết thúc) thì các chất hữu cơ trong đó chủ yếu là các chất trơ, khó sinh huỷ như axit humic, fulvic, tannin, lignin và amoni với hàm lượng rất cao.

Theo Robinson và Gronow thì nồng độ ammonium trong nước rác nằm trong khoảng 194-3.610 mg/l khi rác phân huỷ trong giai đoạn axit hoá và 283-2.040 mg/l trong giai đoạn metan hoá. Nước rác được tách ra khỏi bãi chôn, thường được gom về các hồ chứa trước khi được xử lý và thải ra môi trường. Sự biến động về nồng độ chất hữu cơ (BOD, COD) và hợp chất nitơ trong nước thải dưới sự tương tác của vi sinh vật, điều kiện vật lý (gió, mưa, khô, hanh, nóng, lạnh) và thực vật là đối tượng đáng quan tâm khi đánh giá đặc trưng của nước rỉ rác. Nước rỉ rác tại bãi chôn lấp lâu năm đa phần chứa các hợp chất hữu cơ phức tạp và khó phân hủy sinh học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu làm giàu hệ bùn quá trình CANON trên nền bùn hạt kỵ khí" của tác giả Bùi Thị Kim Ngân, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Phước Dân, từ Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc Gia TP.HCM, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển hệ bùn trong quá trình xử lý nước thải. Nghiên cứu này không chỉ giúp làm giàu hệ bùn mà còn ứng dụng nước rỉ rác cũ, mở ra nhiều triển vọng trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các phương pháp xử lý nước thải hiệu quả và cách thức tối ưu hóa quy trình xử lý.

Nếu bạn quan tâm đến các chủ đề liên quan trong lĩnh vực y tế và kỹ thuật, có thể tham khảo thêm bài viết Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang, nơi bàn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, bài viết Phân Tích Thực Trạng Tồn Trữ Vaccine Tại Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật TP.HCM Năm 2022 cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Thực trạng chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng tại khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020, một nghiên cứu liên quan đến chăm sóc sức khỏe trong lĩnh vực y tế. Các liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và kỹ thuật môi trường.