Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng trung bình 12% mỗi năm, trong đó hơn 80% vẫn được xử lý bằng phương pháp chôn lấp truyền thống. Nước rỉ rác phát sinh từ các bãi chôn lấp lâu năm như bãi rác Gò Cát (đã đóng cửa từ năm 2007) chứa nồng độ ô nhiễm cực kỳ đậm đặc với hàm lượng ammonium trung bình đạt 3.790 ± 172 mg N/L và COD trơ khó phân hủy sinh học lên tới 3.512 ± 543 mg/L. Trong khi đó, quy chuẩn xả thải QCVN 25:2009/BTNMT quy định ngưỡng ammonium tối đa cho phép chỉ là 25 mg N/L. Tỷ lệ C:N quá thấp khiến các công nghệ sinh học truyền thống như nitrat hóa và khử nitrat bộc lộ hạn chế lớn vì tiêu tốn chi phí sục khí khổng lồ và bắt buộc phải bổ sung nguồn carbon hữu cơ ngoại sinh đắt đỏ.

Để giải quyết triệt để thách thức kỹ thuật này, đề tài nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Kim Ngân tập trung làm giàu hệ bùn của quá trình CANON (Completely Autotrophic Nitrogen Removal Over Nitrite) trên nền bùn hạt kỵ khí nhằm khử nitơ hiệu quả trong nước rỉ rác cũ. Thí nghiệm được tiến hành liên tục trong 270 ngày tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường và Tài nguyên, Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP.HCM. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm việc làm giàu bùn anammox bằng cột tuần hoàn nội bộ IC thể tích 13,8 L ở tải trọng 2,0 kg N/m3.ngày, sau đó thích nghi hỗn hợp bùn sinh khối trong bể phản ứng tầng sôi CANON thể tích 17,9 L tại các mức tải trọng 0,94; 0,64 và 0,29 kg N/m3.ngày. Công nghệ này mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp giảm đến 63% nhu cầu oxy hòa tan và tiết kiệm 100% lượng carbon hữu cơ cần cấp cho hệ thống xử lý nước rác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết xử lý nitơ tự dưỡng hoàn toàn thông qua quá trình CANON do Strous và cộng sự phát triển từ năm 1997. Công nghệ CANON tích hợp đồng thời hai quá trình sinh hóa trong cùng một bể phản ứng: quá trình nitrit hóa bán phần do vi khuẩn oxy hóa ammonium (AOB) thực hiện trong điều kiện oxy giới hạn (DO duy trì từ 0,1 đến 1,0 mg/L) và quá trình anammox do vi khuẩn tự dưỡng kỵ khí chuyển hóa hỗn hợp ammonium và nitrite thành khí nitơ phân tử theo tỷ lệ phản ứng lý thuyết NH4+:NO2- là 1:1,32. Theo phương trình cân bằng năng lượng, quá trình chỉ tiêu thụ 1,94 mg O2 và 5,0 mg CaCO3 độ kiềm cho mỗi 1 mg NH4+-N bị loại bỏ, đồng thời chỉ phát sinh 0,13 mg NO3--N.

Mô hình cân bằng ức chế của Anthonisen được áp dụng để tính toán và kiểm soát nồng độ ammonia tự do (Free Ammonia - FA) và axit nitrous tự do (Free Nitrous Acid - FNA). Các chỉ tiêu trung tâm để đánh giá chất lượng sinh khối bao gồm: hoạt tính riêng của vi khuẩn anammox (SAA), hoạt tính riêng của vi khuẩn AOB (SAAOB) và hoạt tính riêng của vi khuẩn oxy hóa nitrite NOB (SANOB). Vận hành hệ thống tập trung vào việc tạo ưu thế cạnh tranh cho vi khuẩn AOB và anammox, đồng thời ức chế hoàn toàn vi khuẩn NOB để ngăn chặn sự chuyển hóa nitrite thành nitrate.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế qua chuỗi 3 thí nghiệm chuyên sâu kéo dài 270 ngày. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 10 L thể tích hữu ích của cột tuần hoàn nội bộ IC (đường kính 100 mm, chiều cao 1.450 mm) và 14,3 L thể tích làm việc của bể phản ứng tầng sôi CANON (đường kính 100 mm, chiều cao 2.250 mm, ngăn lắng 3,4 L). Phương pháp chọn mẫu nước rỉ rác được thu thập đại diện theo hai đợt tại bãi chôn lấp Gò Cát vào tháng 5/2019 (mùa khô) và tháng 9/2019 (mùa mưa). Bùn giống khởi tạo sử dụng 5,0 L bùn hạt kỵ khí từ Công ty Cổ phần Giấy Sài Gòn (nồng độ MLSS đạt 14.574 mg/L, kích thước hạt 0,5 đến 2,5 mm) phối trộn cùng 1,0 L bùn anammox (MLSS đạt 6.423 mg/L, tỷ số MLVSS/MLSS bằng 0,73) nhằm tận dụng khung bùn hạt kỵ khí làm giá thể bảo vệ vi sinh vật anammox.

Toàn bộ các chỉ tiêu chất lượng nước (pH, DO, độ kiềm, NH4+-N, NO2--N, NO3--N, TKN, COD) và chỉ tiêu bùn hoạt tính (MLSS, MLVSS) được phân tích định kỳ theo phương pháp tiêu chuẩn Standard Methods (APHA, 2012) bằng máy so màu quang phổ Hach DR/2010 và giàn phá mẫu Gerhardt. Việc lựa chọn phương pháp phân tích hiển vi điện tử quét FE-SEM JEOL JSM-7401F và phổ tán xạ năng lượng tia X EDS JEOL JED-2300 cho phép quan sát vi cấu trúc bề mặt bùn hạt và xác định thành phần khoáng hóa tế bào. Đồng thời, máy phân tích HORIBA LA-960 Ver2 được ứng dụng để đo đạc chính xác sự phân bố kích thước hạt sinh khối trong điều kiện dòng dâng thủy lực.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tại thí nghiệm làm giàu bùn trong cột IC (72 ngày) với tải trọng nitơ 2,0 kg N/m3.ngày và thời gian lưu nước HRT là 0,52 ngày, hệ thống đạt hiệu suất xử lý ammonium 33,7% và tốc độ loại bỏ ammonium (AMRR) đạt 0,16 kg N/m3.ngày. Hoạt tính riêng của vi khuẩn anammox (SAA) đạt 1,28 mg NH4+-N/gVSS.giờ, SAAOB đạt 0,28 mg NH4+-N/gVSS.giờ, trong khi hoạt tính SANOB bị triệt tiêu xuống mức 0,003 mg NO3--N/gVSS.giờ.

Khi đưa 3,7 L hỗn hợp sinh khối sang bể tầng sôi CANON, ở tải trọng 0,94 ± 0,039 kg N/m3.ngày (HRT 4,1 ngày, vận hành 98 ngày), hiệu suất khử ammonium và tổng nitơ (TN) lần lượt đạt 47,4 ± 12,4% và 43,9 ± 13,8%. Hoạt tính SAA đạt 1,21 mg NH4+-N/gVSS.giờ và SAAOB đạt 0,64 mg NH4+-N/gVSS.giờ. Tuy nhiên, khi hệ thống gặp sự cố sốc tải nồng độ ammonia tự do FA vượt mức 700 mg/L do biến động pH, nồng độ sinh khối bị suy giảm mạnh. Tại các mức tải trọng giảm dần sau đó là 0,64 ± 0,019 kg N/m3.ngày và 0,29 ± 0,017 kg N/m3.ngày, hiệu suất xử lý ammonium chỉ đạt lần lượt 22,6 ± 7,6% và 17,3 ± 11,0% (TN đạt 17,6 ± 6,2% và 17,5 ± 14,8%). Hoạt tính SAA bị suy giảm tương ứng xuống còn 0,59 và 0,46 mg NH4+-N/gVSS.giờ.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc hạt kỵ khí đóng vai trò như một màng chắn sinh học tự nhiên: các tế bào AOB phát triển mạnh ở lớp vỏ ngoài để tiêu thụ oxy hòa tan (duy trì DO trong khoảng 0,1 đến 1,0 mg/L), tạo môi trường vi hiếu khí và kỵ khí ở phần lõi bên trong cho vi khuẩn anammox sinh trưởng an toàn. Diễn biến chuyển hóa các hợp chất nitơ trong mô hình có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ đường biến thiên nồng độ theo thời gian và bảng tương quan giữa nồng độ FA với hoạt tính sinh khối riêng.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm hiệu suất ở các giai đoạn tải trọng thấp bắt nguồn từ sự cố nồng độ FA tăng cao trên 700 mg/L (vượt xa ngưỡng ức chế anammox thông thường là 13 đến 90 mg/L), làm thay đổi pH nội bào và gây chết hàng loạt tế bào vi khuẩn tự dưỡng. Bên cạnh đó, sự cố sử dụng H2SO4 hạ pH ở ngày thứ 29 làm nồng độ sulfate đầu vào tăng lên 304 mg/L, sinh ra khí độc H2S ức chế tạm thời hệ vi sinh vật. So với các nghiên cứu tiền nhiệm sử dụng bể xáo trộn hoàn toàn (CSTR) của tác giả Hà năm 2018 (đạt hiệu suất TN từ 67 đến 76%), bể phản ứng tầng sôi CANON cho khả năng giữ bùn dạng hạt ưu việt hơn nhưng đòi hỏi kỹ thuật kiểm soát nồng độ FA và cân bằng đệm pH nghiêm ngặt hơn rất nhiều.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tự động hóa hệ thống kiểm soát pH và nồng độ FA: Lắp đặt hệ thống châm định lượng acid HCl 7% tự động liên động với đầu dò pH online nhằm duy trì pH trong bể phản ứng ổn định từ 7,5 đến 7,8, đảm bảo kiểm soát nồng độ ammonia tự do FA luôn dưới 20 mg/L trong suốt 100% thời gian vận hành (Chủ thể thực hiện: Kỹ sư điều khiển tự động hóa và đội ngũ vận hành trạm).
  • Tối ưu hóa chiến lược cấp khí tầng sôi: Hiệu chỉnh timer sục khí và lưu lượng khí nạp gián đoạn từ 1,0 đến 2,5 L/phút để duy trì oxy hòa tan DO nghiêm ngặt trong khoảng 0,2 đến 0,5 mg/L, ngăn ngừa hiện tượng oxy khuếch tán vào lõi hạt kỵ khí làm ức chế vi khuẩn anammox trong vòng 3 tháng đầu thích nghi (Chủ thể thực hiện: Phòng kỹ thuật công nghệ môi trường).
  • Bổ sung hệ dinh dưỡng vi lượng định kỳ: Áp dụng quy trình châm vi lượng chứa sắt chelate Fe-EDTA (1,0 mg/L) cùng các khoáng chất NaH2PO4 (110 mg/L) và duy trì độ kiềm trên 1.000 mg CaCO3/L nhằm kích thích quá trình phục hồi sinh khối và rút ngắn thời gian nhân đôi của vi khuẩn anammox xuống dưới 10 ngày (Chủ thể thực hiện: Kỹ thuật viên phòng hóa nghiệm).
  • Nâng cấp thiết bị phân tách ba pha khí - rắn - lỏng: Cải tiến ngăn lắng bên trong bể tầng sôi CANON để duy trì vận tốc dòng dâng tuần hoàn ở mức 6,0 m/h mà không làm rửa trôi bùn mịn, đảm bảo nồng độ MLVSS trong vùng phản ứng luôn đạt trên 4.500 mg/L trong lộ trình 6 tháng nâng cấp pilot (Chủ thể thực hiện: Đơn vị tư vấn thiết kế công trình).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Kỹ sư thiết kế và quản lý vận hành hệ thống xử lý nước thải: Khai thác thông số thiết kế thực nghiệm về tải trọng nitơ, thời gian lưu nước HRT và tỷ lệ tuần hoàn dòng dâng để ứng dụng trực tiếp vào việc thiết kế module CANON xử lý nước thải có nồng độ ammonium cao.
  • Ban quản lý các khu liên hợp xử lý chất thải rắn: Tiếp cận giải pháp công nghệ sinh học tự dưỡng hoàn toàn để thay thế các quy trình hóa lý truyền thống, giúp tiết kiệm 100% chi phí hóa chất bổ sung nguồn carbon hữu cơ và giảm trên 60% điện năng sục khí.
  • Nhà khoa học và nghiên cứu viên công nghệ sinh học môi trường: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang phương pháp luận về quy trình làm giàu bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí, kỹ thuật đo hoạt tính SAA, SAAOB, SANOB và phân tích hình thái tế bào bằng FE-SEM và EDS.
  • Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường: Tham khảo cấu trúc luận văn chuẩn mực, phương pháp phân tích động học chuyển hóa nitơ chuyên sâu và cách thức xử lý sự cố sốc tải trong các mô hình phản ứng sinh học liên tục.

Câu hỏi thường gặp

  • Quá trình CANON có ưu điểm gì vượt trội so với công nghệ nitrat hóa - khử nitrat truyền thống? Quá trình CANON kết hợp vi khuẩn AOB và anammox tự dưỡng trong một bể phản ứng duy nhất, giúp loại bỏ hoàn toàn nhu cầu bổ sung nguồn carbon hữu cơ ngoại sinh. Công nghệ này giúp cắt giảm 63% lượng oxy hòa tan cần cấp, giảm thiểu 80% lượng bùn thải phát sinh và tiết kiệm đáng kể diện tích xây dựng so với các trạm xử lý truyền thống.
  • Tại sao lại chọn bùn hạt kỵ khí làm nền để làm giàu bùn anammox? Bùn hạt kỵ khí sở hữu cấu trúc hạt đặc chắc với kích thước từ 0,5 đến 2,5 mm, tạo thành khung giá thể sinh học bền vững. Cấu trúc này giúp các vi khuẩn anammox kỵ khí bám dính và ẩn náu sâu trong vùng lõi không có oxy, tránh bị rửa trôi và ngăn ngừa tác động ức chế của DO trong giai đoạn thổi khí.
  • Nồng độ ammonia tự do (FA) vượt ngưỡng gây ra những hậu quả gì cho hệ thống? Nồng độ FA cao trên 700 mg/L (do pH tăng cao) sẽ khuếch tán trực tiếp qua màng tế bào vi sinh vật, làm thay đổi pH nội bào và gây ức chế hoạt tính sinh khối. Trong nghiên cứu, sự cố FA vượt ngưỡng đã làm hoạt tính SAA giảm từ 1,21 xuống 0,46 mg NH4+-N/gVSS.giờ, khiến hiệu suất xử lý nitơ bị suy giảm nghiêm trọng.
  • Làm thế nào để ức chế chọn lọc vi khuẩn oxy hóa nitrite (NOB) trong bể CANON? Hệ thống duy trì nồng độ oxy hòa tan ở mức giới hạn từ 0,1 đến 1,0 mg/L kết hợp vận hành với nồng độ ammonia tự do thích hợp. Do vi khuẩn NOB có ái lực oxy thấp và nhạy cảm với FA hơn AOB, hoạt tính SANOB trong nghiên cứu đã bị ức chế triệt để xuống mức 0,003 mg NO3--N/gVSS.giờ.
  • Cần lưu ý điều gì về việc kiểm soát pH và thành phần hóa chất đầu vào? Tuyệt đối không sử dụng H2SO4 để hạ pH vì ion sulfate (SO42- vượt mức 300 mg/L) trong điều kiện kỵ khí sẽ bị khử thành H2S gây độc cho vi sinh vật. Nên sử dụng dung dịch HCl 7% để điều chỉnh pH trong khoảng 7,5 đến 7,8 và duy trì độ kiềm trên 1.000 mg CaCO3/L bằng NaHCO3.

Kết luận

  • Làm giàu thành công hệ bùn anammox trên nền bùn hạt kỵ khí bằng cột tuần hoàn nội bộ IC sau 72 ngày, đạt hiệu suất xử lý ammonium 33,7% và hoạt tính SAA đạt 1,28 mg NH4+-N/gVSS.giờ.
  • Vận hành hiệu quả bể phản ứng tầng sôi CANON ở tải trọng 0,94 kg N/m3.ngày với hiệu suất khử ammonium đạt 47,4 ± 12,4% và tổng nitơ đạt 43,9 ± 13,8%.
  • Định lượng chính xác mức độ ức chế của ammonia tự do (FA > 700 mg/L) và sulfide lên hoạt tính riêng của vi khuẩn AOB và anammox trong điều kiện nước rác thực tế.
  • Chứng minh cấu trúc bùn hạt kỵ khí là giải pháp giá thể mang vi sinh tự dưỡng tối ưu, mở ra hướng đi mới cho công nghệ xử lý nước rỉ rác nồng độ nitơ cao.
  • Xây dựng hoàn chỉnh quy trình phân tích hiển vi FE-SEM, EDS và phương pháp xác định hoạt tính SAA, SAAOB, SANOB phục vụ công tác kiểm soát vi sinh.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là chứng minh tính khả thi của việc rút ngắn thời gian làm giàu bùn anammox bằng cách sử dụng bùn hạt kỵ khí sẵn có tại Việt Nam kết hợp công nghệ CANON tầng sôi. Trong vòng 6 đến 12 tháng tới, các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tự động hóa kiểm soát pH bằng PLC và thử nghiệm quy mô pilot tại hiện trường bãi chôn lấp Gò Cát. Các đơn vị vận hành và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay các thông số động học từ đề tài để tối ưu hóa trạm xử lý nước rỉ rác hiện hữu.