Đặt vấn đề Cây bưởi (Citrus grandis) là cây ăn trái được ưa chuộng trên thé giới bởi giá trị dinh dưỡng cao (giàu vitamin C, acid hữu cơ. Bưởi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng am. Hiện trên thé giới có 75 nước trồng cây có múi, nhưng chỉ có Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á trồng bưởi. Sản lượng bưởi toàn cầu năm 1990 khoảng 5 triệu tấn trong tông số 65 triệu tắn quả của họ cây có múi.
Tại Việt Nam, bưởi được trồng lâu đời ở một số vùng Đồng bằng sông Hồng, Khu Bốn cũ và tập trung nhiều nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay bưởi là cây ăn trái có triển vọng về giá trị kinh tế ở nước ta, nhưng năng suất bình quân khoảng 74 tạ/ha. Ở nhiều địa phương, bưởi có diện tích đang tăng nhanh nhưng thực tế nhiều vườn bưởi chưa qua thời kỳ kiến thiết cơ bản đã phải huỷ bỏ vì sâu bệnh. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân tự sản xuất cây giống chưa tuân thủ quy trình chuẩn, khiến cho nguồn giống bị nhiễm bệnh, trong đó đặc biệt là các bệnh do virus và tương tự virus gây ra.
Các loại bệnh trên cây có múi ở Đồng bằng sông Cửu Long đã được mô tả và tông kết là bệnh vàng lá greening, bệnh virus Tristeza, bệnh mong ga Cristacortis, bệnh Psorosis. phải được loại trừ trong san xuất cây giống. Nhân giống vô tính trên cây có múi nói chung và bưởi nói riêng làm cho các bệnh virus và tương tự virus dé dang lây qua mắt ghép, cây con hầu hết bị nhiễm nếu cây mẹ có bệnh và khiến cho bệnh lưu tồn cả chục năm hay cả trăm năm. Do vậy sạch hoá vật liệu trồng là bước thiết yêu trong công tác nhân giống dé vượt qua các áp lực do virus va tương tự virus gây ra.
Phương pháp chính yếu dé quản lý các bệnh do virus trên cây bưởi là có hệ thong sản xuất cây đầu dòng sạch các bệnh virus và tương tự virus. Con đường duy nhất dé vượt qua bệnh này là phải chắc chan rang tat cả những cây mới được trồng phải là cây sạch hoàn toàn bệnh về virus. Bởi vì virus không luôn luôn truyền qua hạt giống: do đó, gốc ghép trồng từ hạt có thé sạch virus. Bên cạnh những biện pháp loại trừ virus như cay mô, xử lý nhiệt, tạo cây trong nuôi cấy phôi tâm, thì phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng đang được áp dụng rộng rãi.
Kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cho phép tái tạo được cây con sạch bệnh từ cây mẹ bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cây con được phục tráng khi đưa ra vườn ươm lại có khả năng sống rất kém, dé bị mắc sâu bệnh. Kỹ thuật ghép đỉnh sinh trưởng (shoot apex grafting) hay gọi tat là vi ghép (micrografting) được thử nghiệm va mang lại kết qua tốt, với sự phối hợp gốc ghép kháng bệnh, phát triển khỏe có thể giải quyết vẫn đề này. Vi ghép được xem là kỹ thuật in vitro làm sạch bệnh tiềm ân quan trọng trên cây có múi.
Phương pháp vi ghép sử dụng kết hợp với xử lý nhiệt, được thực hiện trong phòng thí nghiệm. Những kỹ thuật giám định bệnh nhanh và chính xác dé kiểm tra cây có bị bệnh hay không là một phần không thể thiếu của quy trình sản xuất cây bưởi sạch bệnh do virus. Năm 1996, Việt Nam bắt đầu thực hiện chương trình cải tạo giống cây có múi nhằm tuân thủ theo các công nghệ tiên tiến của các nước có ngành kỹ nghệ cây có múi phát triển thông qua dự án VIE-86-005 với sự tài trợ của FAO. Dự án đã tiễn hành tuyên chọn cây đầu dòng, xác định bệnh virus, tạo cây sạch bệnh bằng ky thuật vi ghép, khảo sát đặc tính kinh tế của cây mẹ vi ghép và phân phối cành sạch bệnh cho vườn ươm chuyên trách, song chương trình chưa mang lại hiệu quả triệt dé cho vùng sản xuất bưởi, đặc biệt ở khu vực Nam bộ.
Từ những yêu cầu của thực tế, dé day manh viéc tao giống bưởi sạch bệnh cho sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây bưởi, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tao cây bưởi (Citrus grandis) sạch virus bằng kỹ thuật vi ghép”. Mục đích — yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá hệ thống các yếu tố tác động nhằm nâng cao tỷ lệ sống của chồi ghép làm cơ sở khoa học để xây dựng quy trình tạo cây bưởi sạch virus bằng kỹ thuật vi ghép trong sản xuất cây giống đầu dòng So phục vụ cho sản xuất. Yêu cầu - Xác định được nồng độ và thời gian chất khử trùng ảnh hưởng đến mau cấy.
- Xác định được tỷ lệ sống của cây bưởi vi ghép thông qua tác động của biện pháp nuôi cấy chồi đỉnh và kỹ thuật vi ghép. - Xác định được môi trường dinh dưỡng dé cây bưởi sinh trưởng sau vi ghép. - Xác định môi trường giá thé cho cây bưởi vi ghép ngoài vườn ươm. - Xác định tỷ lệ sông của cây bưởi sau khi ghép trong nhà lưới.
- Giảm định virus trên cây bưởi sau khi ghép trong nhà lưới và sơ bộ uớc tính chi phí giá thành cây bưởi sạch virus bằng kỹ thuật vi ghép trong sản xuất cây giống đầu dòng So. Giới hạn của đề tài - Đề tài được tiến hành ghép ở quy mô phòng thí nghiệm và nhà lưới với gốc ghép là chanh Volkamer, bưởi Bòng; chồi ghép là bưởi Da Xanh, Năm Roi, và bưởi Đường Lá Cam. - Đề tài chỉ giám định một loại virus Tristeza trên cây bưởi sau khi ghép trong nhà lưới. + Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TONG QUÁT VE CÂY BƯỞI 2.1 Sơ lược nguồn gốc, phân loại và hình thái cây bưởi Cây bưởi nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau đây: Ngành hạt kín Angiospermae Lớp hai lá mam Dicotyledones Bộ cam Rutales Họ cam Rutaceae Tên khoa học: Citrus grandis Theo Nguyễn Văn Kế (1997), bưởi thuộc họ cam quýt có nguồn gốc Đông Nam Á (Thái Lan và Malaysia) sau đó lan rộng qua Án Độ, Trung Quốc và Iran (trích dẫn bởi Hà Thanh Võ, 2005). Theo Vũ Công Hậu (1996), về hình thái, bưởi là loại cây lớn, có lông trắng ở ngọn non, ở lá, ở hoa và cả ở trai non (bưởi chùm không có), lá to, đuôi lá tù có cánh. Hạt bưởi đơn phôi, mọc lên một cây độc nhất, hữu tính, còn hạt bưởi chùm cũng như quýt đều đa phôi (từ một hạt mọc lên nhiều cây, chỉ có một cây có gốc hữu tính). Theo Phạm Văn Dué (2005), bưởi chùm (Citrus paradis) rất giỗng bưởi, là loài lai giữa bưởi Satdok và cam, được coi là cây có múi duy nhất không có nguồn gốc từ chau A, xuất hiện ở các đảo Angti (Caribê) vào thé kỷ 18 — 19.
Phân biệt bưởi và bưởi chùm Đặc tính Bưởi (Citrus grandis) Bưởi chùm (C. paradis) Búp non, cuống lá Có lông, 2 bên cuống lá có cánh Không có lông cánh lá nhỏ to hình tim hơn Kích thước quả Đường kính 11 — 17 cm Duong kính 9 — 13 cm Tâm qua Rong Dac Tép Roi, thit gion Thuong dinh vao nhau, thit thuong nat Huong vi Không én định khi chưa ngọt Đã được chọn lọc, vừa chua vừa ngọt, hơi đắng Hình thù hat Hạt khá to, thường dẹp Hạt nhẫn, trắng Thai hạt Thường đơn phôi Thường đa phôi Số múi/trái 3-18 8-11 (Nguôn: Phạm Văn Duệ, 2005) Đặc tính sinh lý nồi bật nhất ở bưởi là thích nghi với khí hậu nóng và am nhiệt đới. Theo Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, cây bưởi có thể sinh trưởng được từ 40 độ vĩ Bắc đến 40 độ vĩ Nam, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23 - 290C, ngừng sinh trưởng dưới 13°C và chết ở âm 50C. Cường độ ánh sáng thích hợp là 10.
Cây bưởi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả, nhưng cũng rất sợ ngập úng. Âm độ đất thích hợp nhất là 70 - 80%. Lượng mưa cần khoảng 1. Dat đai phải có tầng canh tác dày ít nhất là 0,6 m, thành phan cơ giới nhẹ hoặc trung bình.
Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH từ 5,5 - 7, có hàm lượng hữu cơ cao > 3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp dưới 0,8 m. Bưởi Năm Roi Lá lớn, phiến lá dạng trứng ngược. Cánh lá to dạng tam giác, trái to (trọng lượng trung bình 1 kg/trái), dạng quả lê. Trái có 11 - 16 múi, vỏ trái màu xanh đến vàng nhạt, khá ráo nước, còn tép bó chặt nhau, ngon ngọt, có vị chua ít, không đắng, tróc vỏ múi tốt.
Đặc biệt hiện nay có dòng bưởi Năm Roi không hạt hoặc ít hạt. Bưởi Năm Roi được trồng nhiều ở Bình Minh (Vĩnh Long) và Phú Hữu (Cần Thơ). Bưởi Năm Roi có nhiều giống: bưởi Năm Roi 01 (BNR01), BNR02, BNR25, BNR04. Riêng cá thé giống bưởi Năm Roi 25 của ông Tô Văn Nho ở Mỹ Hoà, Bình Minh, Vĩnh Long đã được bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận cho phép đưa vào sản suất ở các tỉnh phía Nam, theo quyết định số 2767 NN- KHCN/QD vào ngày 29/10//1997.
Bưởi Đường Lá Cam Có nguồn gốc ở Biên Hòa (Đồng Nai), hiện nay là một trong những giống bưởi chủ lực của các nhà vườn bưởi miền Đông Nam bộ, được trồng khá tập trung ở huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) và huyện Tân Uyên (Bình Dương). Tán cây tròn đều, phân bố thấp, cành đều, lá xanh đậm, phiến hình mác, lá hình tim, bìa lá có khía tròn. Quả hình trái lê thấp, màu xanh vàng khi chín, vỏ láng, dé bóc, tép qua rất dé tróc, màu vàng nhạt hoặc đồng nhất. Nước quả nhiều hương vị thơm, rất ngon.
Khối lượng qua 1. Năng suất 400 trái/cây. Nhược điểm của giống này là số hạt khá cao (trung bình 60 — 90 hạt/trái). Giống bưởi Đường Lá Cam đã được hai giải thưởng: giải nhất tại Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế năm 1995 tổ chức tại Cần Thơ và giải B trong hội thi “Cây có múi giống tốt” năm 1996 do Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam tổ chức.
Cá thể thuộc giống Đường Lá Cam mã số BC12 của ông Trần Văn Hoà ở Tân Bình, Vĩnh Cửu, Đồng Nai, đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận theo QD ngày 29/10/1997. Bưởi Da Xanh Giống bưởi này có nguồn gốc ở tỉnh Bến Tre, được biết đến trong những năm gần đây do phẩm chất rất ngon. Do mới phát triển nên diện tích còn khá nhỏ, chỉ tập trung ở xã Mỹ Thạnh An thuộc thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre.