ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thiên nhiên luôn gắn với cuộc sống của loài ngƣời đã từ rất lâu. Mỗi loại tài nguyên đều có những giá trị kinh tế, xã hội hay giá trị môi trƣờng nhất định. Rừng ngập mặn (RNM) là một hiện tƣợng tự nhiên đƣợc hình thành và phát triển trên các vùng cửa sông, cửa biển ở một số vùng nhiệt đới và á nhiệt đới tạo nên một hệ sinh thái với những nét đặc trƣng riêng. Hệ thống rừng ngập mặn ven biển đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, đặc biệt là vai trò phòng hộ chắn sóng, chắn gió bão, bảo vệ sản xuất và đời sống của nhân dân, bảo vệ các công trình đê điều ven biển.
Tuy nhiên, thời gian qua các hệ sinh thái ven biển đã suy giảm nặng nề cả về diện tích lẫn chất lƣợng do nhiều nguyên nhân. Điển hình nhƣ vùng Bắc Bộ, chỉ riêng tính đến năm 2005, các trận bão đặc biệt là bão số 7 đã làm xói lở bờ biển gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều tỉnh nhƣ Thái Bình, Nam Định. Bên cạnh các yếu tố tự nhiên nhƣ gió bão, nƣớc biển dâng, xói lở bờ biển thì rừng ngập mặn còn bị suy giảm mạnh bởi các yếu tố xã hội nhƣ khai thác rừng không hợp lý, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng mà điển hình là sang nuôi trồng thủy sản, công tác quản lý bảo vệ rừng chƣa tốt, biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng chƣa phù hợp. Tại thời điểm năm 2013, tổng diện tích rừng ngập mặn nƣớc ta là 168.688 ha, giảm gần 60% so với năm 1943 và cấu trúc rừng cũng bị thay đổi, nhiều diện tích rừng bị suy thoái làm suy giảm chức năng phòng hộ.
Về chất lƣợng, tổ thành loài đơn giản, mật độ cây rừng thấp, phần lớn các rừng mới trồng chủ yếu là rừng trồng thuần loài và tỷ lệ thành rừng không cao. Sự suy thoái rừng ngập mặn đã làm suy giảm cấu trúc và chức năng của rừng, do đó làm giảm vai trò kinh tế, xã hội và đặc biệt là giảm giá trị phòng hộ và môi trƣờng của rừng. 2 Để khắc phục những thiệt hại cũng nhƣ phục hồi và phát triển rừng ngập mặn thì việc trồng, quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn giúp phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trƣờng và phát triển kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với các vùng ven biển Việt Nam nói chung và vùng ven biển Bắc Bộ nói riêng, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật trồng Bần không cánh (Sonneratia apetala Buch – Ham) ở vùng ven biển Bắc Bộ” 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Rừng ngập mặn có vai trò vô cùng quan trọng về môi trƣờng, kinh tế và xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái.
Có thể phân chia thành 4 nhóm dịch vụ, bao gồm dịch vụ cung cấp (gỗ, nguồn lợi thủy sản), dịch vụ điều tiết (bảo vệ bờ biển, hấp thụ cacbon), dịch vụ hỗ trợ (cố định phù sa, hỗ trợ sản xuất, tuần hoàn dinh dƣỡng), và dịch vụ văn hóa (các giá trị tín ngƣỡng, du lịch và giải trí) (Rönnbäck và cs, 2007). Tuy nhiên suy giảm rừng ngập mặn về cả diện tích và chất lƣợng trên thế giới hiện nay đang là vấn đề đáng báo động. Nghiên cứu về phân bố, đặc điểm hình thái và vật hậu Bần không cánh phân bố tự nhiên ở Ấn Độ, Myanma và Bangladesh, hiện nay loài cây này đã đƣợc dẫn giống trồng rừng thành công ở tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến thuộc Trung Quốc (IUCN, 2010). Bần không cánh là loài cây gỗ lớn, cao 15-20m, thân hình trụ tròn, có rễ thở dạng măng mọc vƣơn ra bề mặt nƣớc, thân cành màu xám, khi còn non có màu xanh nhạt; cành nhỏ mảnh mai rủ xuống, dần cứng cáp và một phần nâng lên.
Lá mọc đối xứng, dày, hình bầu dục tròn đến hình bầu dục dài, độ dài từ 5,5-13,0 cm, rộng 1,5-3,5 cm, cuống lá màu xanh nhạt đến hồng nhạt. Hoa tự chùm, chồi hoa hình trứng, đài hoa 4 thuỳ hình tam giác dài 1,5-2,0 cm màu xanh. Quả hình cầu mọng chứa nhiều nƣớc, đƣờng kính 1,5-3,0 cm. Quả mẹ có khoảng 50 hạt.
Hạt có hình chữ V từ 3,6-10,5 mm, bình quân là 6,4 mm, phía ngoài vỏ hạt giống có nhiều lỗ, lồi lõm không đều, màu vàng trắng. Khi hạt nảy mầm khỏi đất có 2 lá, hình bầu dục dài, độ dài 2,0-2,8 cm, rộng 0,8-1,0 cm. Thân mầm trên dài 0,4-0,5 cm, màu hồng nhạt, thân mầm dƣới dài 1,8-2,7 cm có màu xanh hoặc màu hồng nhạt (Li Y Y, et al, 2012). 4 Ở mỗi khu vực sinh sống, Bần không cánh có kỳ vật hậu khác nhau, thông thƣờng ở những vùng có vĩ độ càng cao thì kỳ vật hậu đến muộn và cũng kết thúc muộn hơn.
Theo nghiên cứu của tác giả Li Y Y, et al, (2012), tại Vịnh Đông Trại - Hải Nam, Bần không cánh cuối tháng 3 bắt đầu xuất hiện nụ hoa, đến đầu tháng 5 bắt đầu nở hoa, cuối tháng 5 là thời kỳ hoa nở rộ, bắt đầu kết quả, cuối tháng 8 quả bắt đầu chín, từ giữa đến cuối tháng 9 là thời kỳ quả chín rộ, tháng 10 là thời kỳ cuối cùng quả chín. Tại Thâm Quyến - Quảng Đông, Bần không cánh cuối tháng 5 mới bắt đầu xuất hiện nụ hoa, đầu tháng 6 hoa nở, cuối tháng 6 kết quả, cuối tháng 10 quả bắt đầu chín, giữa tháng 11 là thời kỳ quả chín rộ, cuối tháng 11 quả chín là thời kỳ cuối. Những nghiên cứu dẫn giống và gây trồng Bần không cánh 1. Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Bần không cánh Bangladesh là quốc gia có rừng ngập mặn trồng với diện tích lớn dọc bờ biển (Das và Siddiqui).
Một trong những chƣơng trình lớn về tái trồng rừng đƣợc thực hiện ở vùng bờ biển Chittagong, Noakhali, Bhola, Barisal và Patuakhali thuộc Bangladesh. Chƣơng trình này lần đầu tiên đƣợc thực hiện ở Bangladesh vào năm 1966 và đến hiện giờ vẫn đang tiếp tục (Aiddiqui và Khan, 2000). Khoảng cách trồng bần không cánh trong chƣơng trình này là 1,02 x 1,20 m đến 1,8 x 1,8 với mật độ lần lƣợt là 6945 và 3085 cây/ha. Tại Bangladesh, Bần không cánh thƣờng đƣợc trồng thuần loài hoặc hỗn loài, các loài cây trồng hỗn loài là Vẹt đen (Bruguiedoa Sexuangula), Mắm đen (Avicennia officinalis), cây Giá (Excecaria agallocha),…(Islam và cộng sự, 2011).
Việc chọn giống có ảnh hƣởng rất lớn đến sự thành công của việc trồng rừng Bần không cánh. Theo Hawlader (1999), sinh trƣởng và năng suất của rừng Bần không cánh ở Bangladesh thƣờng thấp hơn so với một số nƣớc trong khu vực nguyên nhân là do chất lƣợng hạt giống không đảm bảo. Đối với hạt giống tốt đƣợc lựa chọn, sau 7 năm trồng, tỷ lệ sống là 48-54%, chiều 5 cao trung bình là 12,54m, đƣờng kính ngang ngực là 12,09cm, tăng trƣởng bình quân hàng năm là 38,09 m3/ha/năm. Đối với hạt giống đƣợc lựa chọn không thông qua lựa chọn cây mẹ, tỷ lệ sống của cây là 32 - 41%, chiều cao là 7,71m, đƣờng kính ngang ngực là 8,51cm, tăng trƣởng bình quân hàng năm là 8,13m3/ha/năm (Islam và cộng sự, 2016).
Theo Nandy và cộng sự (2004), việc chọn hạt giống Bần không cánh có thể đƣợc tiến hành bằng cách cho điểm cây mẹ nhƣ sau: điểm 10 đối với đƣờng kính ngang ngực, điểm 15 cho chiều cao cây, điểm 20 cho hình dáng thân, điểm 5 cho tỉa thƣa tự nhiên, điểm 10 cho sự phát triển cành, điểm 5 cho độ lớn của cành, 10 cho sự phát triển của vòng gỗ và sản lƣợng quả, 10 cho khả năng vƣợt trội của ngọn cây, 5 cho khả năng phân cành và 10 cho sức sống của cây. Các cây có điểm từ 53-70 (giá trị trung bình 63) sẽ đƣợc lựa chọn, cây có điểm từ 55-86 (giá trị trung bình là 70) đƣợc đánh giá là những cây tốt nhất. Những cây mẹ có điểm ít hơn 53 sẽ bị loại không lấy hạt giống. Hạt giống đƣợc thu thập từ tháng 8 đến tháng 9.
Hạt giống đƣợc bảo quản trong túi bầu với kích thƣớc 25x15cm cùng với đất vụn nhỏ và phân bò với tỷ lệ 3:1. Hạt giống sẽ đƣợc giữ trong vƣờn ƣơm trong vòng 10 tháng (Islam và cộng sự, 2016). Cây con cao từ 40 cm trở lên có thể đem trồng rừng, nơi trồng rừng nên chọn nơi mà khi thuỷ triều dâng lên độ sâu ngập 1 m trở xuống, bãi lầy có độ mặn nƣớc biển không cao hơn 25 ‰ (Zhang S W, 2010), trong đó lấy nơi cửa sông có đất bùn sét, độ mặn nhỏ hơn 10‰ là tốt nhất (Wu Z H, et al, 2000). Mùa vụ thích hợp trồng rừng từ tháng 4 đến tháng 8, tháng 9 trở về sau thời tiết dần chuyển lạnh, không có lợi cho sinh trƣởng, gặp phải đợt không khí lạnh bị đóng băng gây chết cây.
Khi cây con sinh trƣởng tốt hơn thì khả năng kháng lạnh dần đƣợc tăng cƣờng. Cây con ở các địa điểm có khí hậu và điều kiện thuỷ triều khác nhau nhận đƣợc mức độ ảnh hƣởng khác nhau. Nhƣ ở 6 Trạm Giang từ tháng 5 đến tháng 8 trồng rừng là tốt nhất, thời gian này là mùa mƣa, độ mặn nƣớc biển các bãi lầy giảm thấp, mức độ gây hại của các loài sinh vật nhƣ Hà (Hàu), Cua đối cây con ít, làm cho trồng rừng Bần không cánh có tỉ lệ sống cao(Wu Z H, et al, 2000). Tại huyện Chƣơng Phố, Phúc Kiến trồng rừng vào cuối tháng 4 đến cuối tháng 5 có tỉ lệ thành rừng cao nhất, tháng 6 có nhiệt độ cao, độ bốc hơi cao nhất, ảnh hƣởng đến tỉ lệ sống (Zhang S W, 2010).
Trồng rừng ở nơi có sóng gió lớn cần dùng các cọc gỗ hoặc cọc tre để buộc giữ cây bảo vệ cây con, tránh để cây con bị sóng gió làm đổ, Bần không cánh trồng rừng sau 1 năm không bị ảnh hƣởng của sóng gió (Huang L, et al, 2003). Nghiên cứu sinh trưởng của Bần không cánh Tùy từng vị trí gieo ƣơm, tiêu chuẩn chất lƣợng cây con đem trồng mà quyết định thời điểm vào bầu, kích thƣớc bầu thế nào cho phù hợp. Thông thƣờng ở vƣờn ƣơm khi cây con cao từ 10-30 cm nên cho vào túi bầu; ở Hải Nam, Trung Quốc vào tháng 11-12 có thể cho vào bầu, ở Thâm Quyến do khí hậu mùa đông có nhiệt độ thấp nên thông thƣờng để cuối tháng 3 năm sau cho vào bầu là thích hợp, bầu gieo ƣơm lấy quy cách 20 x 18 cm là tốt, trực tiếp lấy bùn từ luống gieo đổ đầy, hoặc có thể dùng đất giàu dinh dƣỡng đổ vào, sau khi chuyển cây con 3-5 ngày, hàng ngày tƣới nƣớc 1-2 lần, tỉ lệ sống đạt 90-98%.