Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Khả năng thích ứng của giống với các điều kiện sinh thái rất khác nhau.
Muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng thích ứng cũng như tiềm năng năng suất của các giống mới trước khi đưa ra sản xuất đại trà, từ đó tìm ra những giống thích hợp nhất đối với từng vùng sinh thái. Đối với những cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn như cây rau nói chung và Cải bắp nói riêng thì điều kiện ngoại cảnh là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và năng suất của cây, gặp điều kiện bất thuận có thể gây thiệt hại lớn, có khi là mất trắng. Đối với những loại cây rau cải bắp, dưa, ớt, đậu đũa, côve … thì biện pháp sử dụng màng phủ nông nghiệp là giải pháp tối ưu. Vì như vậy sẽ kiểm soát được độ ẩm trong đất, làm cho đất tơi xốp.
Mặt khác, sử dụng màng phủ còn giảm tối đa được công làm cỏ, cũng như hạn chế được sâu bệnh gây hại từ đó giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật. Dùng màng phủ sẽ tạo cho người nông dân nhiều điều kiện ứng dụng kỹ thuật canh tác mới, giống mới vào nông nghiệp. Ngoài ra, phân bón là dinh dưỡng không thể thiếu để cây trồng sinh trưởng và phát triển thuận lợi. Song, cũng giống như các nhân tố đất, nước, thuốc BVTV, phân bón luôn tiềm tàng, ẩn chứa rất nhiều nguy cơ ô nhiễm cho cây trồng đặc biệt là cây rau.
Đó là các nguy cơ ô nhiễm về sinh học (virus, vi khuẩn, nấm) và hóa học (các nguyên tố kim loại nặng, hàm lượng nitơrat). Vì vậy, việc sử dụng phân bón hợp lý và an toàn cho cây trồng nói chung, cây rau nói riêng là một việc làm cần thiết, phục vụ cho sức khỏe con người. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc.
Cơ sở thực tiễn Khi tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng diện tích đất cho xây dựng nhà ở lớn kéo theo diện tích đất nông nghiệp thu hẹp nhất là diện tích cho trồng rau giảm mạnh. Xu thế của người dân hiện nay là chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh doanh hay làm công nhân trong các khu nhà máy chế xuất, khu công nghiệp …vì sản xuất Nông Nghiệp kém hiệu quả không cải thiện đời sống người dân. Từ thực tế trên mà các nhà lãnh đạo và các nhà khoa học đang liên kết với nhau để đổi mới nông nghiệp, hướng tới nền nông nghiệp đô thị phát triển nâng cao đời sống cho bà con nông dân. Xuân Cẩm là một xã phía Tây Nam của huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang cũng có truyền thống trồng rau màu lâu đời.
Cây trồng chính mà người dân thâm canh như dưa chuột, rau cải, bí các loại, mướp….Trong đó có cây cải bắp cũng là cây chủ lực. Tuy nhiên chưa có đầu tư lớn trong sản xuất rau chất lượng cao, phục vụ nhu cầu ngày càng lớn của thị trường. Người vẫn chạy theo lợi nhuận chỉ quan tâm tới cung cấp số lượng chứ chưa quan tâm tới chất lương của rau. Trong sản xuất vẫn sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, thuốc độc cấm sử dụng, nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng rau.
Vì sản xuất rau theo truyền thống nên tốn nhiều lao động tưới nước, làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh hại nên hiệu quả kinh tế từ việc trồng rau, nhiều người dân đã chuyển từ trồng rau truyền thống sang cây trồng khác hay bỏ hẳn nghề trồng rau. Để đáp ứng như cầu của thị trường về nguồn rau sạch ổn định có rất nhiều các dự án của nhà nước cũng như các dự án của các tổ chức phi chính phủ đang đầu tư vào xã để nâng cao trình độ sản xuất Nông Nghiệp cũng như tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm nông nghiệp tại địa phương. Người dân địa phương rất nhiệt tình hưởng ứng áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Đây cũng là thuận lợi lớn cho những nhà chuyển giao khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp về nông thôn.
Cơ sở lý luận Ở Việt Nam với khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp, cây rau được trồng phổ biến và có khả năng sinh trưởng phát triển tốt. Rau là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày, là nguồn cung cấp vitamin, chất khoáng, vi lượng, chất sơ cho cơ thể con người. Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản nhất là rau xanh 6 đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Việc ô nhiễm sinh vật, hóa chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau, đặc biệt là rau ăn lá đã ảnh hưởng không nhỏ đối với sức khỏe cộng đồng.
Giá trị dinh dưỡng và vai trò của sản xuất rau trong nền kinh tế quốc dân 1. Giá trị của cây rau 1. Giá trị dinh dưỡng Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng trong 100g phần ăn được của một số loại rau ăn trong họ thập tự (National food review 1978, USDA) Cây Cải bắp Cải bao Cải bìxen Su hào Bắc thảo Chỉ tiêu Nước (%) 92 91 85 90 95 Năng lượng (cal) 24 27 45 29 14 Chất đạm (g) 1.2 Chất bột đường (g) 5,4 5,2 8,3 6,6 3,0 Ca (mg) 49 25 36 41 43 P(mg) 29 56 80 51 40 K(mg) 233 295 390 372 253 Vitamin c (mg) 47 48 102 66 25 Vitamin A (I.U) 130 60 550 20 150 (Nguồn USDA, 1978) [31] Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của các gia đình. Rau cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con người như: Vitamin, các chất khoáng…trong các loại rau gia vị còn có chất kháng sinh, các chất thơm, các axit hữu cơ…một số rau đậu có protein nhưng những chất mà rau cung cấp chủ yếunhất vẫn là các vitamin mà các thực phẩm khác như: thịt, trứng, sữa không có hoặc có rất ít.
Trong đó, rau cũng là loại cây chứa 7 hàm lượng vitamin và chất khoáng cao hơn hẳn một số cây trồng khác. So sánh thành phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc A.A shidique, 1985 đã cho thấy rau đặc biết là rau ăn lá có hàm lượng vitamin và chất khoáng cao hơn lúa và lúa mì nhiều lần .2: Giá trị dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc (tính trong l00g trọng lượng tươi) Cacbon Khoáng (mg) Độ ẩm Pr Calo Cây Hydrate (%) (g) (kcalo) Caroten VTMC Canxi Fe (g) Lúa 12,6 77,4 8,5 349 0,009 0 0 2,8 Lúa mỳ 12,8 71,2 11,8 346 0,064 0 41 4,9 Rau ăn lá 88,5 4,3 2,9 36 6,80 54 145 9,0 Rau ăn thân 87,5 9,1 1,6 44 0,58 19 84 0,7 Rau ăn quả 88 8,4 2,2 46 1,00 25 35 0,8 Rau ăn củ 80,7 16,2 1,5 89 1,34 11 24 0,7 Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng lượng rau chiếm từ 30 – 40% trong bữa ăn hàng ngày. Trong khi xã hội ngày một phát triển nên việc dùng rau trong bữa ăn hàng ngày càng tăng. Trong khẩu phần ăn của người dân hiện nay rau cung cấp khoảng 95 – 99% nguồn vitamin A, 60 – 70% nguồn vitamin B2, gần 100% vitamin C và các loại vitamin khác [4].
Nếu trong khẩu phần ăn lâu ngày mà thiếu rau xanh thì thường xuất hiện các triệu chứng như : khô da, sần sùi, mắt mờ, quáng gà.do thiếu vitamin A, lở loét miệng, lưỡi, viêm ngứa, chủ yếu do thiếu vitamin B2, tê phù do thiếu vitamin B1, chảy máu chân răng, mệt mỏi chân tay suy nhược.do thiếu vitamin C. Thiếu vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc giảm sút, bênh tật sẽ phát sinh, khi mắc bệnh cũng như chữa bệnh lâu lành. Trong lao động, học tập, công tác và sinh hoạt hàng ngày mỗi người đều cần một lượng vitamin nhất định. Giá trị kinh tế - Theo giáo trình trồng rau, năm 2000 của Tạ Thị Thu Cúc [7], rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao: giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2-3 lần so với 1 ha lúa.
Hiệu quả lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào trình độ người sản xuất, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng loại rau. Ở Việt Nam cũng đã có một số mô hình sản xuất và xuất khẩu rau, hoa, lúa và các cây khác. Nhìn chung, cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm do đó sản lượng trên đơn vị diện tích tăng. - Rau là nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm: Nhiều loại rau được sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến thực phẩm như: + Công nghệ đồ hộp: dưa chuột, cà chua, măng tây… + Công nghệ sản xuất nước giải khát: cà chua, cà rốt… + Công nghệ bánh kẹo: Bí xanh, cà rốt, khoai tây… + Công nghiệp chế biến thuốc, dược liệu: tỏi, hành, rau gia vị … + Làm hương liệu: hạt mùi, ớt, cà chua… - Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như: ngành chăn nuôi (là nguồn thức ăn cho chăn nuôi), rau cung cấp một lượng thức ăn và chất xanh cho chăn nuôi, thúc đẩy cho ngành chăn nuôi phát triển.3 Giá trị khác * Giá trị Y học Rau không những có giá trị dinh dưỡng cao mà còn được sử dụng như cây liệu quý: hành hoa, gừng, nghệ , tía tô, nụ non của cây súp lơ xanh, cà rốt, mộc nhĩ đen, nấm…đặc biệt cây tỏi ta được xem là cây dược liệu quý trong nền y học cổ truyền của nhiều nước như : Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam… người ta cho rằng, nếu ăn mướp đắng và bí ngô một cách thường xuyên thì có thể phòng bệnh đái tháo đường – một loại bệnh nan y.
Trong rau cải có nhiều thành phần có tác dụng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư và ngăn ngừa các tế bào này tái phát. Thường xuyên ăn rau cải cũng làm giảm nguy cơ mắc ung thư phổi tới 36%. Cải bắp không chỉ là món ăn có nhiều vitamin quý mà còn là vị thuốc chữa được một số bệnh như béo phì, sỏi thận, phòng bệnh tiểu đường.