Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Lúa lai (Hybrid rice) là danh từ gọi tắt của lúa ưu thế lai. Lúa ưu thế lai là các giống lúa ứng dụng hiệu ứng ưu thế lai đời F1. Lúa lai khác lúa thường ở chỗ hạt giống lúa lai chỉ sử dụng một lần do hiệu ứng ưu thế lai thể hiện mạnh nhất [19].
Rễ lúa lai phát triển sớm và mạnh. Kết quả quan sát cho thấy khi bắt đầu nẩy mầm, rễ mầm và thân mầm cùng xuất hiện, khi lá thứ nhất xuất hiện thì có 3 rễ mới hình thành, khi lá thứ hai xuất hiện thì 7 rễ hình thành, sau đó số lượng rễ tăng lên rất nhanh, các rễ có đường kính to hơn dòng bố mẹ, sự phân nhánh nhiều hơn, rễ ăn sâu và toả rộng ra xung quanh, tạo ra một lớp rễ đan dày ở tầng sát mặt đất. Lông hút của rễ lúa lai nhiều và dài (0,1-0,25 mm) hơn hẳn lúa thường (0,01-0,013 mm). Vì số lượng nhiều nên diện tiếp xúc lớn, làm cho khả năng hấp thu tăng cao gấp 2 - 3 lần lúa thường.
Khi gặp điều kiện thiếu nước rễ lúa lai ăn sâu hơn lúa thường nên khả năng chịu hạn tốt hơn. Đường kính rễ lớn giúp cho quá trình vận chuyển nước và dinh dưỡng thuận tiện. Rễ lúa lai phát triển mạnh trong suốt quá trình sống của cây, vì vậy lúa lai có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại đất, tận dụng được phân bón trong đất. cây lúa khoẻ mạnh suốt quá trình sống, ít bị đổ, sau khi thu hoạch, gốc rạ có khả năng tái sinh mạnh do bộ rễ lâu già hoặc có khả năng hình thành rễ mới liên tục.
Chính vì bộ rễ khoẻ nên lúa lai có khả năng thích ứng rộng, sử dụng tiết kiệm phân bón, cây cứng, ít đổ [18][13]. Rễ lúa lai có khả năng thích ứng cao, tận dụng được phân bón trong đất, chống đổ tốt vì vậy trong các biện pháp kỹ thuật cần tập trung bón lượng kali và lân cao để phát huy tiềm năng hút dinh dưỡng của bộ rễ lúa lai [18]. Đặc điểm đẻ nhánh của lúa lai Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa. Quá trình đẻ nhánh của lúa lai tuân theo qui luật đẻ nhánh chung của cây lúa là khi quan sát thấy lá thứ 4 xuất hiện thì đồng thời nhánh đầu tiên vươn ra từ bẹ lá thứ nhất.
Các nhánh sau tiếp tục xuất hiện đúng theo quy luật là khi lá thứ 5 xuất hiện thì nhánh con thứ hai xuất hiện, lá thứ 6 xuất hiện thì nhánh con thứ ba xuất hiện đồng thời với nhánh cháu thứ nhất. Khi có 7 lá thì nhánh mẹ đẻ nhánh con thứ 4, nhánh con 1 đẻ nhánh cháu 2. nhánh con 2 đẻ nhánh cháu 1. lúc đó khóm lúa đã có 8 nhánh (nếu cấy 1 dảnh), nếu cấy 2 dảnh khởi đầu thì khóm lúa đạt được 15-16 dảnh.
Khi đó có thể tiến hành kìm hãm đẻ nhánh để tập trung dinh dưỡng nuôi các nhánh đẻ sớm. Từ kết quả phân tích này cho thấy lúa không cần cấy dầy, cấy nhiều dảnh như vẫn làm. So với lúa thường, lúa lai có khả năng đẻ nhánh đều hơn ở thời kỳ đầu nhờ quá trình cung cấp dinh dưỡng tốt của bộ rễ. Các nhánh đẻ sớm thường to mập, có số lá nhiều hơn các nhánh đẻ sau, nên bông lúa to đều nhau xấp xỉ như bông chính.
Lúa lai có tỷ lệ nhánh thành bông cao hơn hẳn lúa thường. Kết quả nghiên cứu của Trung Quốc cho thấy tỷ lệ thành bông của lúa lai đạt khoảng 80-90% trong khi lúa thường chỉ đạt khoảng 60-70% trong cùng điều kiện thí nghiệm [19]. Lúa lai có khả năng hồi xanh nhanh, đẻ nhánh sớm, đẻ nhánh khỏe và có số bông hữu hiệu cao do đó hệ số sử dụng phân bón rất cao. Vì vậy trong kỹ thuật sản xuất lúa lai thương phẩm cần chăm sóc hợp lí để đảm bảo số nhánh hữu hiệu, số lá và số bông, tránh bón phân nhiều.
bón muộn làm cho lúa đẻ nhánh lai dai thường làm tăng tỷ lệ nhánh vô hiệu, ảnh hưởng đến tiêu hao dinh dưỡng cũng như tăng cường sự phá hoại của sâu bệnh [29]. Đặc điểm bộ lá của lúa lai Lá lúa là cơ quan quan trọng nhất trong suốt đời sống cây lúa. Nó làm nhiệm vụ quang hợp, tích luỹ chất khô, hô hấp. Độ dày mỏng của lá có liên quan gián tiếp đến hiệu suất quang hợp.
Bộ lá cứng dày và tương đối hẹp tạo điều kiện cho việc nâng cao mật độ gieo cấy, đồng thời ánh sáng mặt trời vẫn có thể chiếu sâu tới tầng lá gốc, kích thích quá trình đẻ nhánh, hạn chế sâu bệnh làm tăng diện tích quang hợp tạo ra nhiều chất khô [28]. Số lá trên cây, trước hết phụ thuộc vào giống và khi tăng thêm một lá thì thời gian trổ muộn hơn 5 ngày [4]. Cây lúa ở mỗi thời kỳ khác nhau thì lá lúa cũng có chức năng khác nhau. Sunoda, từ lá thứ 8 trở lên lá đòng tích luỹ dinh dưỡng vận chuyển tới bông hạt, từ lá thứ 8 trở xuống tích luỹ dinh dưỡng về thân rễ.
Sau khi trổ lá đòng và lá công năng giữ vai trò quan trọng nhất. Lá đòng và lá công năng cung cấp 2/3 chất dinh dưỡng cho bông [31]. Lá của giai đoạn nào thường quyết định sinh trưởng của cây trong thời kỳ đó 3 lá trên cùng đóng góp 74% tổng lượng vật chất chuyển vào hạt, thời gian hoạt động của các lá này càng dài thì năng suất lúa càng cao [19]. Theo Đào Thế Tuấn (1981) một giống lúa có năng suất cao cần có đủ 2 điều kiện: Phải có diện tích lá cao trước trổ để tạo ra "nguồn" lớn, vì vậy lá lúa phải đứng thẳng và nhỏ.
Có hiệu suất quang hợp sau trỗ cao, có thể tạo ra bông lúa to, tức là có sức chứa dinh dưỡng lớn [19]. Yosida (1981) cho rằng trong một cây mà phối hợp được các lá trên thẳng, các lá dưới cong dần và dài hơn là bộ lá lý tưởng cho quang hợp của cây lúa. Các giống lá dày có hàm lượng diệp lục nhiều hơn làm cho cường độ quang hợp cao hơn, tích luỹ mạnh hơn, độ bền của lá kéo dài hơn những giống có lá mỏng [41]. Do bộ lá lúa lai phát triển mạnh nên hấp dẫn các loại côn trùng, thịt lá dầy, mô lá xốp nên các loại nấm bệnh dễ dàng xâm nhập, phát triển, cần nắm vững đặc điểm này trong suốt quá trình canh tác lúa lai để phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh gây hại, từ đó đảm bảo năng suất thực thu cao [7].
Đặc điểm cấu tạo của bông lúa Lúa lai có nhiều bông trên khóm, bông to, nhiều hạt và tỷ lệ hạt mẩy cao. Do lúa lai đẻ sớm, đẻ khoẻ, các bông to đều, hạt nhiều và nặng, trên bông có nhiều gié cấp 1 (13-15 gié), trên 1 gié cấp 1 có 3 - 7 gié cấp 2 mỗi gié cấp 2 có từ 3 - 7 hạt. Vì vậy khối lượng bông cao hơn lúa thường 1,5-2,5 lần, các giống lai hiện nay có khối lượng bông trung bình từ 4 - 7 gam. Đặc biệt đốt giáp cổ bông có 3 - 4 gié cấp 1 nên nhìn bông lúa như một chùm hạt.
Tổng số hạt trên bông trung bình từ 150-250 hạt, tỷ lệ hạt chắc >90% nếu như giai đoạn trỗ gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, và lượng dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ thì bông lúa càng nặng. Khi dinh dưỡng thiếu hoặc không cân đối (thiếu kali) thì hạt trên bông lúa lai chín không đều. Nói chung lúa lai chỉ có loại hình bông to hoặc bông trung bình, không có loại bông nhỏ. Vì vậy có thể gieo lúa lai với mật độ thấp hơn lúa thường, tính toán sao cho trên 1 m2 thu được 5-7 vạn hạt chắc (320-360 bông/m2), thì năng suất đạt được 12-15 tấn/ha/vụ.
Hạt lúa lai có vỏ trấu mỏng, tỷ lệ gạo xay, gạo xát cao. Nếu các dòng bố mẹ tham gia lai có kích thước hạt khác xa nhau thì hạt lai có thể có kích thước không đều, tỷ lệ hạt bạc bụng cao khi xay xát dễ bị gẫy, làm cho tỷ lệ gạo nguyên thấp. Do vỏ hạt lúa lai mỏng nên khi lúa chín nếu gặp mưa vài ngày liền có thể xảy ra hiện tượng mọc mầm trên bông. Vì vậy cần bố trí thời vụ phù hợp, thuận lợi và phơi cẩn thận để giảm hao hụt khi thu hoạch [18][13].
n 9 Đa số giống lúa lai có số bông/khóm cao, số hạt/bông nhiều và tỷ lệ hạt lép thấp. Để thỏa mãn các đặc điểm trên của giống nhằm đáp ứng mục tiêu cuối cùng trong sản xuất là năng suất thực thu cao cần phải xác định được mật độ cấy, độ lớn của bông, lượng phân bón thích hợp. Các yếu tố dinh dưỡng khoáng chính của cây lúa và kỹ thuật bón phân cho lúa lai 1. Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa Đạm là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây lúa.
Các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau thì khả năng sử dụng phân đạm khác nhau. Trong các giống lúa thì lúa lai có khả năng hút đạm mạnh hơn so với lúa thuần ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng do ưu thế lai về bộ rễ và khả năng hút đạm [16]. Theo tính toán của các nhà khoa học Trung Quốc vào thời kỳ đẻ rộ đến bắt đầu phân hoá đòng lúa lai hấp thu 3.520 gam N/ha/ngày, chiếm 34,68% tổng lượng đạm hấp thu trong suốt quá trình sinh trưởng. Giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ rộ hấp thu 2.737 gam N/ha/ngày.
Như vậy quá trình hấp thu đạm của lúa lai rất tập trung, nên kỹ thuật bón phân cho lúa lai cần cải tiến so với lúa thường, cụ thể là: tập trung mạnh ở thời kỳ đầu, phải bón lót nhiều và bón thúc sớm hơn hẳn so với lúa thường (sau cấy 7-10 ngày phải bón xong lần thứ nhất). Vào giai đoạn cuối của quá trình sinh trưởng sức hấp thu đạm của lúa lai giảm hơn giai đoạn đầu, nên không cần cung cấp thêm nhiều đạm, cây lúa có thể sử dụng lượng đạm dự trữ, khi trỗ xong có thể bón bổ sung ít để nuôi hạt, giúp cho bộ lá lâu tàn, hạt sẽ mẩy, chất lượng gạo tốt hơn [3]. Ngoài ra, hiệu suất sử dụng đạm đối với quang hợp cũng như năng suất chất khô và năng suất hạt của lúa lai cao hơn hẳn so với lúa thuần [33].