ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn để Nuôi cấy mô tế bào thực vật (plant cell and tissue culture) là một ngành khoa học trẻ nằm trong sinh lý thực vật. Mặc dù phôi thai từ đầu thế kỷ 20, nhưng chỉ 25 năm gần đây mới được ứng dụng trong chọn và nhân giống cây trồng. Nuôi cấy in vitro bao gồm nhiều kỹ thuật như nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, nuôi cấy mô seo, nuôi cấy tế bào đơn, nuôi cấy protoplast — chuyển gen và nuôi cấy hạt phấn đơn bội, với ba hướng tái tạo cơ quan và phát sinh hình thái là: phát sinh phôi, sự hình thành cụm chổi và kích thích sự phát triển của chổi bên. Ở nước ta, nuôi cấy mô thực vật chỉ mới bắt đầu từ năm 1975.
Ý thức được triển vọng to lớn của ngành khoa học hiện đại này trong chọn giống và nhân giống cây trồng, nên các cơ sở nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, các trường đại học tại Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, một số đơn vị nghiên cứu thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lâm nghiệp, đã chú ý xây dựng các phòng nghiên cứu nuôi cấy mô thực vật. Tuy nhiên hiện nay, các Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật phần lớn nghiên cứu, nuôi cấy các loại cây thân thảo một lá mầm như lúa, bắp, lan, hồng môn và một số cây ăn trái như cam, quýt bằng phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng. Trên thực tế khi nuôi cấy các loại cây thân gỗ bằng phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng gặp nhiều khó khăn như tốc độ nhân giống không cao, nguồn mau ít, vì thế phương pháp nuôi cấy phát sinh phôi được xem như một kỹ thuật mang lại hiệu quả hơn trong nhân giống các loài cây thân gỗ.
Riêng cây quế là một loại cây đặc san có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng mạnh nên quế là một trong các loại cây được ngành lâm nghiệp chọn trong chiến lược tăng nhanh diện tích rừng trồng. Quế được trồng chủ yếu để lấy tinh dau (nhu cầu trên thế giới tới vài nghìn tấn quế/năm), làm thuốc, cung cấp gỗ cho ngành công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng quế còn nhiều hạn chế vì hiện nay phương pháp nhân giống bằng hạt qua vườn ươm là chủ yếu mà hạt giống quế cần lấy ở cây 15-20 năm tuổi, lại mất sức nẩy mầm nhanh, không chịu được điều kiện bảo quản khô. Các phương pháp nhân giống vô tính (chiết cành, tách mầm) tuy có hệ số nhân thấp nhưng có ưu điểm quan trọng là duy trì được những đặc tính tốt của cây mẹ.
Điều này có ý nghĩa lớn trong sản xuất quế, nhất là trong tình hình hiện nay, ở nhiều nơi quế có hiện tượng thoái hoá va tính chống chịu bệnh giảm. Ngoài ra cây quế nhân giống bằng phuơng pháp vô tính sau 6-7 năm cho thu hoạch, nhưng trồng bằng hạt phai sau 20 năm. Như vậy để có thể tạo ra một số lượng giống lớn bằng phương pháp nhân giống vô tính, chúng tôi đã thực hiện đề tài : “Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cấy tái sinh phôi cây quế (Cinamomum cassia BỊ.2 Mục tiêu nghiên cứu * Nghiên cứu kỹ thuật tái sinh phôi cây quế.3 Giới hạn đề tài Do thời gian có hạn nên dé tài chỉ được thực hiện trong phòng thí nghiệm chứ chưa đưa cây tái sinh ra ngoài vườn ươm. Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm nông sinh học cây quế 2.1 Đặc điểm hình thái Cây quế có tên khoa học là: Cinnamomum sp.
(10) Thuộc: Ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledonae Bộ: Laurales Họ: Lauraceae Giống: Cinnamomum Quế là cây nhiệt đới va á nhiệt đới trong dải từ 32° vĩ Bắc đến 32° vĩ Nam. Cây sinh trưởng tốt ở đất có tầng đáy, thích nghi với các loại hình đất đỏ. Cây thích nghi với nhiệt độ trung bình từ 22 — 25°C. Lượng mưa thích hợp là 1800 — 2000 mm/năm.
Cây cần ánh sáng.(12) Quế được trồng phổ biến bằng hạt, trồng vào mùa xuân hoặc mùa thu. GO Việt Nam có nhiều loài quế trong đó có 3 loài được trồng và mọc hoang là: quế thanh (còn gọi là quế quỳ), quế quan (còn gọi là quế Xrilanca), quế đơn (còn gọi là quế Trung Quốc). Quế thanh (Cinnamomum loureirii Gare. Cây to, cành non có cạnh, có lông.
Lá thuôn đến mác thuôn, có mũi nhọn mềm, mặt dưới phủ vay nhỏ, gân bên không kéo dài đến đầu lá, gân phụ mờ. Hoa trắng, bao hoa dài 3mm. Quả dai 8 — 10 mm, đài tôn tại nhỏ. (A: 2 năm tuổi, B: 10 năm tuổi) Qué quan (Cinnamomum zeylanicum Gare.
Cây có kích thước trung bình, cành non 4 cạnh, hơi dẹt có lông nhỏ rải rác. Lá mọc đối hoặc gần đối (ít khi so le), hình bầu dục, gân lá 3-5, gồ lên ở cả 2 mặt. Cụm hoa dai hon lá, bao hoa đài 5-6 mm, màu vàng. Quế đơn (Cinnamomum casia Nees.
Vỏ màu xám nâu có mùi thơm. Cành non vuông 4 cạnh, màu xanh nhạt, phủ lông màu đen. Lá đơn mọc cách, hình thuôn trái xoan, có 3 gân xuất phát từ gốc nổi rõ những gân bên nổi rõ ở mặt bên. Phiến lá cứng dày, mặt dưới màu tro lục, có lông thưa.
Quả hình viên trụ màu tím hồng.2 Phân bố, sinh thái Cinnamomum BI. La một chi lớn gồm khoảng 27 loài, hầu hết là cây gỗ, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu A. Ở An Độ có 20 loài, Trung Quốc 12 loài và Việt Nam 40 loài. Quế có nguồn gốc ở Việt Nam, cách nay khoảng hơn 2000 năm, các triéu đại phong kiến đã coi “Quế Giao Chỉ” như là sản vật quý để trao đổi và triều cống (Lê Trần Đức, 1990).
Song, hiện nay chưa xác định cụ thể cây được trồng từ bao giờ. Nhiều vùng quế đã được hình thành từ lâu đời ở Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi. quần thể quế mọc hoang dại được phát hiện trong các kiểu rừng kín thường xanh còn nguyên sinh hay tương đối nguyên sinh ở độ cao 500 m (miền Bắc) — 700 m (miền Nam) trở lên. Quế là cây gỗ ưa sáng và chịu bóng, nhất là thời kỳ cây còn nhỏ (1-5 năm).
Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình năm cho cây sinh trưởng phát triển mạnh là 22-23°C, độ ẩm không khí trung bình khoảng §0% lượng mưa hang năm khoảng 1600mm. Cây mọc được trên nhiễu loại đất ẩm, nhiều mùn và tơi xốp, pH 4,5 - 5,5. Quế có bộ rễ cọc khoẻ, cắm sâu xuống đất nên ít bị đổ khi có gió bão.3 Công tác giống Qué được trồng từ lâu ở một số tỉnh miền Trung và miễn Bắc Việt Nam. ^ Cây có thể nhân giống được bằng hạt, chiết cành hoặc tách mầm.
Hiện nay, phương pháp nhân giống bằng hạt qua vườn ươm là chủ yếu. Hạt giống quế cần lấy ở cây 15 - 20 năm tuổi, mọc tốt, tán lá đều, quả mập và sai. Khi quả chín (1/3 vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu tím) thì thu hái. Nên lấy quả ở những cành cách ngọn cây 1m trở xuống.
Quả lấy về cần ủ 2 - 3 ngày cho chín đều, sau đó dem sát bỏ thịt quả, đãi lấy hạt. Hạt quế mất sức nay mầm rất nhanh, không chịu được điều kiện bảo quản khô vì vậy cần gieo ngay khi mới thu hái. Nếu chưa gieo ngay, phải bảo quản trong cát ẩm bằng cách: trải một lớp hạt, một lớp cát trong góc nhà nơi thoáng mát. Hàng ngày đảo hạt một lần, loại bỏ hạt thối.
Cần giữ cát luôn luôn ẩm. Chú ý không giữ hạt lâu quá 2 tuần. Trước khi gieo hạt cần được xử lý trong nước 40 — 45°C trong 6 giờ, loại bỏ hạt nổi, rửa sạch, để ráo nước, ủ trong cát ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo vào bầu. Sau khi gieo 15 ngày hạt nảy mầm.
Khi cây được 3 — 5 tháng tuổi tiến hành bón thúc bằng phân vô cơ. Chú ý giữ ẩm và làm cỏ thường xuyên. Cây quế con nuôi trong vườn ươm 1 năm được bứng đi trồng vào mùa xuân năm sau. Các phương pháp nhân giống vô tính (chiết cành và tách mầm) tuy có hệ số nhân thấp, nhưng có ưu điểm quan trọng là duy trì được những đặc tính tốt của cây mẹ.
Điều này có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất quế, nhất là trong tình hình hiện nay, ở nhiều nơi quế có hiện tượng thoái hóa và tính chống chịu bệnh giảm. Sau khi chọn lọc, việc nhân dòng quế không thể thực hiện được bằng con đường nhân hữu tính. Khi chiết quế, chọn cành có đường kính 1,5 — 2 cm, mọc thang để tiến hành nhân giống theo phương pháp chiết thông thường. Chiết vào tháng 8 — 9, đến tháng 2 — 3 năm sau, đã có thể cắt đi trồng.
Quế có kha năng tái sinh khá mạnh. Sau khi thu vỏ, cây quế được chặt sát gốc, sẽ sinh nhiều chổi non. Để lại một chỗi, tiếp tục chăm sóc để sau này thu vỏ. Còn những chổi khác, chọn những chổi moc từ rễ ngang gần mặt đất, tách lấy cả đoạn rễ mang đi trồng.
Qué ưa đất rừng có lớp đất mặt dày, tơi xốp, nhiều min, thoát nước tốt, độ pH 4 - 5, độ dốc không quá 35%, độ cao trên 400m, nhiều ánh sáng và khuất. Bệnh đáng kể nhất của quế là tua mực, tức là cây bệnh bị chay nhựa trông giống như tua con mực. Chưa rõ nguyên nhân chỉ biết quế trồng ở độ cao trên 400 m ít và trên 700 m hầu như không mắc bệnh này. Cây quế nhân giống bằng phương pháp vô tính sau 6 — 7 năm cho thu hoạch, nhưng trồng bằng hạt phai sau 20 năm.
Trong quá trình nuôi dưỡng can tỉa thưa 2 lần. Đối với cây trồng từ hạt, tia thưa lần thứ nhất vào tuổi 8 — 10, lần thứ hai vào tuổi 15. Cây trồng bằng triết cành hoặc chổi thì tuỳ tình hình sinh trưởng của cây mà tỉa cho phù hợp. Cây để tái sinh liền chân không cần tia.
Cường độ tỉa khoảng 30 — 50 % số cây. Trung bình một năm mỗi hecta cho 5 tấn quế vỏ và 7 tấn quế chi.4 Tỉnh dầu quế Tinh dau quế được lấy từ vỏ thân, cành, lá quế và phai chứa ít nhất 1% tinh dầu (dược điểm Việt Nam) cây quế càng lâu năm lượng tinh dầu càng cao. Tinh dầu quế (thu nhận từ vỏ ) là chất lỏng trong, màu vàng, vị nóng ngọt, có mùi quế, để ra ngoài không khí tinh dầu chuyển màu và đặc lại. Tan trong Benzene, Ether, Chloroform, Ethanol 90°.
Chỉ số axit 4,40. Hàm lượng andehyd cynamic: 70 — 80 %. Hàm lượng eugenol: 4— 10 %. Tinh dầu quế thanh chứa andehyd cynamic: 95 %, alchol cynamic, linalol, prophyphenyl — axetat, acid cynamic, aldehyd orto — cumaric, p— xymen.