Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn 1. Cơ sở khoa học của việc ghép cây trong nhân giống Ghép là lấy một bộ phận, một phần của cây này ghép lên thân của cây khác cùng loài tạo nên một cây mới có gốc của cây này nhưng ngọn của cây khác, cùng sinh trưởng, phát triển như là một cây thống nhất. Khi ghép bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của tượng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau (Nguyễn Văn Vượng và cs, 2018).
Mô của thân cây hay cây cùng loài gần nhau có thể tiếp hợp với nhau nhờ sự hoạt động của tượng tầng. Ghép là sự kết hợp của cơ quan dinh dưỡng của cùng một cây hay là các phần thân của giống cần nhân (cành ghép) lên thân (gốc cây khác: Chấp, bưởi. Sau này ở cây ghép mới, phần trên mặt đất phát triển từ cành ghép, còn bộ rễ từ gốc ghép. Sau khi áp sát phần tượng tầng của gốc ghép và cành ghép với nhau, trước tiên những tế bào bị thương tổn của hai mặt cắt hình thành lớp ngăn cách màu nâu, sau đó các tế bào nhu mô dưới lớp ngăn cách ấy phân chia rất nhanh, hình thành mô liên hợp giữa cành ghép và gốc ghép, đồng thời lớp ngăn cách dần dần biến mất, các tế bào mới sinh sản của cành ghép và gốc ghép liên hệ với nhau, do đó chất dinh dưỡng của cành ghép chịu ảnh hưởng của tế bào bên cạnh của gốc ghép mà phân hóa thành mô tương tự (Vũ Công Hậu 2000, Hoàng Ngọc Thuận 2001).
Sở dĩ cành ghép có thể nối và sống được trên gốc ghép là vì cả cành và gốc ghép đều có mô phân sinh đó là những tế bào non, khi bóc vỏ một phần dính vào với vỏ một phần còn lại phủ trên trục gốc trắng dưới vỏ. Khi ghép bằng cành hoặc ghép bằng mắt một phần của mô phân sinh của cành ghép tiếp e 5 xúc với một phần của mô phân sinh của gốc ghép và tạo nên một loại mô mới gọi là mô tiếp hợp nhờ đó mà việc trao đổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép diễn ra liên tục và tạo nên một cây ghép hoàn chỉnh (Vũ Công Hậu 1990, Hoàng Ngọc Thuận, Trần Thế Tục 1993). Những tế bào mới sinh của cành ghép tương ứng với mạch dẫn. cứ như thế sẽ làm cho các loại ô tế bào của cành ghép và gốc ghép có mối liên hệ tương ứng và hình thành của một thể cộng sinh mới, cành ghép và góc ghép có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối liên hệ dẫn truyền của chúng quyết định.
Cành ghép và gốc ghép hình thành lớp tiếp hợp càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự tiếp hợp càng được củng cố, sự trao đổi giữa chất dinh dưỡng vô cơ của gốc ghép và chất dinh dưỡng hữu cơ của cành ghép càng dễ dàng. Tác giả Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) cho biết: Khi nhân giống bằng ghép cây có 1 số ưu điểm sau: Cây ghép sinh trưởng tốt, tuổi thọ cao nhờ rễ của gốc ghép hoạt động tốt. Cây ghép giữ được các đặc điểm tốt của cây mẹ, do mắt ghép cành ghép được lấy trên cây mẹ đã thành thục, các đặc tính di truyền đã ổn định; Cho hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn đã tạo ra một số lượng lớn cây giống. Duy trì được nòi giống đối với những loại cây quả không có hạt hoặc dùng phương pháp chiết, giâm cành khó ra rễ; Nâng cao sức chống chịu của cây mẹ, trên cơ sở chọn được tổ hợp ghép phù hợp.
Có thể tạo được cây tán thấp, cây có nhiều cành ngay từ giai đoạn vườn ươm, thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hoạch. Đồng thời Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) đã cho biết về các nhược điểm khi nhân giống bằng ghép cây là: Cây ghép dễ bị nhiễm bệnh nếu không chú ý chọn mắt ghép, gốc ghép sạch bệnh; Tổ hợp ghép không phù hợp dễ bị tách vết ghép nếu gặp gió bão sau khi ghép, hoặc hiện tượng chân hương nếu gốc ghép sinh trưởng yếu hơn mắt ghép cành ghép và chỉ ghép được những cây cùng loài hoặc cùng họ với nhau. Cơ sở khoa học của việc sử dụng các kiểu ghép khác nhau trong nhân giống Cây ghép gồm 2 bộ phận: Gốc ghép và cành ghép, trong đó gốc ghép có vai trò rất quan trọng trong sinh trưởng, phát triển của cây ghép. Gốc ghép thường là cây gieo hạt cùng loài, cùng giống với cây ghép.
Nếu cây gốc ghép có bộ rễ khỏe, chống chịu tốt thì sẽ tạo điều kiện cho cành ghép sinh trưởng, phát triển và chống chịu tốt. Có 2 phương pháp ghép chính là ghép mắt và ghép cành: + Ghép mắt: Ứng với từng trường hợp cụ thể phương pháp ghép mắt có 4 kiểu ghép: ghép cửa sổ kiểu “chữ I” hoặc kiểu “cửa sổ hình chữ nhật, ghép kiểu “chữ T” hoặc “ghép mắt nhỏ có gỗ”. + Ghép cành: Phương pháp ghép cành là lấy một đoạn cành từ một phần cây (cành hoặc chồi, gọi là cành ghép) nối ghép vào một cây khác (gọi là gốc ghép). Cành ghép phải chọn ở cây tốt.
Gốc ghép thường là cây mọc từ hạt, có bộ rễ sinh trưởng khỏe. Có nhiều kiểu ghép: ghép cành bên, ghép nêm và ghép áp. Mỗi kiểu ghép có các ưu nhược điểm nhất định và tùy thuộc vào mùa vụ, loại cây trồng mà lựa chọn cho phù hợp. Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa gốc ghép và bộ phận ghép cho thấy: - Sau khi ghép sống, gốc ghép và thân, cành ghép là một cơ thể thống nhất hoàn chỉnh.
Tuy gốc ghép chỉ có gốc không mang cành, lá của bản thân nó mà mang thân cành của bộ phận ghép nhưng giữa 2 phần này có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau và có ảnh hưởng qua lại với nhau. Cơ sở khoa học và thực tiễn của lựa chọn thời vụ ghép trong nhân giống Việc tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép, mắt ghép phụ thuộc rất nhiều vào sức sinh trưởng của gốc ghép và cành ghép. Sức sinh trưởng của e 7 cây lại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu của từng mùa, vụ. Trong 1 năm có nhiều mùa vụ, có những mùa vụ thuận lợi cho cây sinh trưởng, nhựa cây lưu thông tốt: vụ Xuân, vụ Hè và vụ Thu, có vụ do thời tiết khô hạn nên nhựa trong cây lưu thông kém như vụ Đông.
Các thời điểm này rất ảnh hưởng đến khả năng tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép, mắt ghép. Việc lựa chọn được thời điểm ghép, thời vụ ghép phù hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ghép sống và khả năng sinh trưởng, tỷ lệ xuất vườn của cây ghép (Đào Thanh Vân, Nguyễn Văn Vượng, 2015). Năm 2011, Nguyễn Thị Xuyến đã nghiên cứu thời vụ ghép cho 4 dòng (TN13, XB -106, XB – 4 và bưởi Đỏ) cho biết: vụ Xuân là thời vụ có chiều dài cành lớn nhất, vụ Hè và vụ Thu có sự sai khác về chiều dài cành không có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%. Riêng giống bưởi Đỏ sự sai khác về chiều dài cành ở cả 3 thời vụ đều không có ý nghĩa.
Trong các dòng nghiên cứu thì dòng XB- 106 là dòng có chiều dài cành lớn nhất, lớn hơn bưởi đỏ còn 2 dòng TN13 và XB - 4 là 2 dòng có chiều dài cành nhỏ hơn bưởi Đỏ. Về chỉ tiêu đường kính cành giữa các thời vụ không có sự sai khác nhiều. Ở tất cả các dòng thì vụ Xuân đều có đường kính cành lớn hơn vụ Hè và vụ Thu nhưng không có sự sai khác có ý nghĩa, như vậy có thể nói đường kính cành ghép ít chịu tác động của thời vụ ghép. Chỉ tiêu số cành cấp 1 có sự sai khác khá lớn giữa các thời vụ.
Ở tất cả các dòng nghiên cứu, vụ Xuân là thời vụ có số lượng cành cấp 1 lớn nhất. Sự chênh lệch giữa số lượng cành cấp 1 của vụ Xuân và vụ Hè khá nhiều còn giữa vụ Xuân với vụ Thu và vụ Thu với vụ Hè thì sự chênh lệch hầu như không có ý nghĩa. Chứng tỏ khả năng nảy mầm của các tổ hợp ghép chịu sự ảnh hưởng của thời vụ. Vụ Xuân và vụ Thu thích hợp cho việc ghép cây cam quýt vì khả năng nảy mầm cao còn vụ Hè không thích hợp.
Chỉ tiêu số lá và số mắt lá không có ý nghĩa nhiều trong việc đánh giá cây con đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên tỷ lệ số lá/số mắt lá lại là chỉ tiêu quan e 8 trọng thể hiện khả năng tiếp hợp của các tổ hợp ghép. Nếu cành ghép và gốc ghép tiếp hợp tốt, khí hậu thuận lợi, không bị sâu bệnh hại thì đến khi cây con xuất vườn sẽ ít có hiện tượng rụng lá. Tức là số lá sẽ bằng hoặc gần bằng số mắt lá.
So sánh 2 chỉ tiêu này cho thấy hầu hết các dòng vào vụ Xuân ít có sự chênh lệch giữa số lá và số mắt lá (TN13 là 11,43 lá và 12,52 mắt lá; XB - 4 là 10,01 và 10,93; XB - 106 là 10,98 và 11,88; bưởi Đỏ là 15,08 và 15,32). Vụ Hè và vụ Thu hiện tượng rụng lá diễn ra khá mạnh, thể hiện ở sự chênh lệch lớn giữa số lá và số mắt lá, đặc biệt là vào vụ Thu (bưởi Đỏ là 13,42 lá và mắt lá). Như vậy, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: khi ghép một số dòng cam quýt trên gốc ghép bưởi chua vào 3 thời vụ thì vụ Xuân là vụ có các đặc điểm sinh trưởng của cành ghép tốt nhất sau đó đến vụ Thu. Vụ Hè là thời vụ không thuận lợi cho công tác ghép nhân giống.
Trong các dòng nghiên cứu thì dòng XB - 106 có các chỉ tiêu sinh trưởng tốt nhất nên có triển vọng nhất trong việc nhân giống bằng phương pháp ghép. Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc sử dụng phân bón lá Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng. Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng. Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống.