Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của giâm cành chè Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai phương pháp: Nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Nhân giống vô tính chè cũng giống như các loại cây trồng khác bao gồm: Nuôi cấy mô, triết, ghép và giâm cành trong đó phương pháp giâm cành là khả thi nhất. Giâm cành chè là biện pháp dùng một đoạn cành dài 4 - 5 cm, có 1 lá nguyên vẹn sạch sâu bệnh.
Cành có màu xanh hoặc từ xanh chuyển sang nâu. Mỗi hom có một mầm nách dài không quá 1cm. Sau đó đem giâm trên nền vật liệu nhất định (đất, cát, xơ dừa, trấu…) để tạo thành cây con mới với số lượng lớn phục vụ sản xuất. Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây chè mới.
Phiến lá của hom chè là cơ quan để quang hợp tạo ra những chất dinh dưỡng nuôi hom và tái sinh cây, lá có vai trò quan trọng trong việc tạo thành cây chè. Do đó lá không thể bị thương và phải sạch sâu bệnh. Mỗi giống chè có những đặc điểm khác nhauvì vậy khi giâm cành tỷ lệ ra rễ và bật mầm khác nhau. Trong thực tế có những giống khi giâm cành tỷ lệ xuất vườn rất cao nhưng cũng có những giống tỷ lệ xuất vườn rất thấp vì vậy giá thành cây giống rất cao.
Để giâm cành chè có hiệu quả cần phải khắc phục những nhược điểm của các giống tạo điều kiện thuận lợi cho cành giâm phát triển. e 5 Đặc điểm của cây mẹ, tuổi hom, kích thước hom, thời vụ giâm khác nhau dẫn đến hàm lượng và tỷ lệ các chất thuộc nhóm kích thích sinh trưởng khác nhau do đó sự hình thành rễ và chồi cũng vì thế mà khác nhau. Nếu một hom chè ở một thời vụ nhất định có tỷ lệ các chất thuộc nhóm Auxin và Xytokinin thích hợp cho việc hình thành rễ và chồi thì đó là thời vụ giâm có hiệu quả nhất đối với giống chè đó. Với tuổi hom khác nhau các chất kích thích trong đó cũng khác nhau, vì vậy mà kết quả giâm cành cũng khác nhau.
Rõ ràng rằng tuổi hom, kích thước hom giâm sẽ quyết định tỷ lệ và hàm lượng các chất Phytohoocmon trong hom, thông qua đó mà quyết định quá trình hình thành rễ và chồi của hom giâm. Do đó việc nghiên cứu một số chỉ tiêu như tuổi hom giâm (hom xanh, hom bánh tẻ, hom nâu) hoặc tăng kích thước bầu giâm sẽ có ý nghĩa đối với việc làm tăng tỷ lệ ra rễ và bật mầm của hom giâm trên cơ sở đó tăng chất lượng cây chè giống trước khi trồng. Ngoài ra, do thời vụ khác nhau mà hàm lượng các chất Phytohoocmon và sự tổng hợp các chất trong hom khác nhau nên kết quả giâm cũng khác nhau vì vậy việc nghiên cứu thời vụ giâm được xem là một khâu kỹ thuật quan trọng không thể bỏ qua. Để đảm bảo chất lượng hom giống, khi nuôi hom nương chè thường được bón phân.
Tuy nhiên việc bón phân phù hợp hoặc bón không cân đối sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng các chất trong hom, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho sự hình thành rễ, chồi và sinh trưởng của hom giâm. Vì vậy nghiên cứu lượng phân và dạng phân cho vườn giống khi nuôi hom cũng cần được nghiên cứu. Một nhược điểm của các giống chè khi trồng mới bằng cây giâm hom; Trong những năm đầu cây sinh trưởng yếu, tỷ lệ chết cao. Để khắc phục hiện tượng trên, các giải pháp kỹ thuật như tăng kích thước bầu giâm, tăng tuổi cây e 6 giống, kết hợp với các biện pháp kỹ thuật làm tăng tỷ lệ sống và tăng sức sinh trưởng của cây chè giống khi trồng mới, đồng thời bón phân bổ sung cho cây mẹ nhằm cải thiện chất lượng hom giống, tăng tuổi cây chè giống, dùng cây trồng xen làm cây che bong tạm thời, thời vụ trồng…được xem là những cơ sở khoa học và là biện pháp kỹ thuật tổng hợp làm nâng cao tới mức tối đa hệ số nhân giống cũng như nhanh chóng mở rộng diện tích của một số giống chè mới chọn tạo ở Việt Nam.
Cơ sở khoa học và những giải pháp nêu trên của Đề tài nhằm đạt hiệu quả cao trong nhân giống và khắc phục những hạn chế khi trồng mới giống chè Trung du búp tím đang là yêu cầu của sản xuất và cũng là quá trình hoàn thiện trong nghiên cứu, phục vụ cho việc mở rộng diện tích giống chè này và một số giống chè có đặc điểm tương tự ra sản xuất nhằm tăng nhanh diện tích các giống chè chất lượng cao thay thế các giống chè có năng suất thấp và chất lượng kém giúp cho ngành chè Việt Nam sản xuất hiệu quả hơn. Cơ sở thực tiễn của đề tài Thực tế hiện nay trong sản xuất giống chè toàn bộ giá thể được đóng trong bầu PE, thông thường mỗi bầu giâm hom đất nặng 0,5 kg, diện tích chè nước ta chủ yếu tập trung tại vùng đồi núi nên trong quá trình vận chuyển tốn rất nhiều chi phí và nhân công, bên cạnh đó trong quá trình vận chuyển dễ dập nát ảnh hưởng đến chất lượng cây giống. Từ đó vấn đề lựa chọn được giá thể phù hợp trong sản xuất bầu chè giống làm giảm các chi phí sản xuất đảm bảo chất lượng cây giống là rất cần thiết. Đối với một số giống chè bản địa có chất lượng tốt, có giá trị về nguồn gen, có giá trị về dược liệu cần được bảo tồn và phát triển chính vì vậy mà việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cũng rất cần được quan tâm.
Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm Cây chè có thể nhân giống bằng 2 phương pháp khác nhau: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính. Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm khác nhau. Trước kia người ta thường dùng phương pháp nhân giống hữu tính (gieo hạt), phương pháp này có những ưu điểm: kỹ thuật gieo trồng tương đối đơn giản, dễ làm, chi phí lao động, vật tư thấp, tính thích ứng của cây con với điều kiện ngoại cảnh tương đối tốt. Tuy nhiên, phương pháp này lại tồn tại những nhược điểm như quần thể nương chè không đồng đều, năng suất và chất lượng búp thấp.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ người ta đã có thể nhân giống chè bằng các hình thức khác nhau như: Giâm cành chè, chiết, ghép nuôi cấy mô nhằm nhân nhanh các giống mới. Nhân giống vô tính đã tạo nên sự đồng đều về hình thái, giữ nguyên đặc trưng của cây mẹ, năng suất, chất lượng cao, nhưng nhược điểm là chi phí giá thành cao, đặc biệt với những giống khó nhân giống. Thực vật nói chung và cây chè nói riêng có khả năng tái sinh cơ thể mới từ các cơ quan sinh dưỡng. Khi một đoạn cành được cắt ra khởi cơ thể mẹ thì các quá trình phân chia tế bào vẫn tiếp tục xảy ra để hình thành mô sẹo từ mặt cắt của cành giâm phía dưới mặt đất và mầm ở nách lá hoạt động để hình thành một cây chè hoàn chỉnh.
Tuy nhiên khả năng này thường có ở những cành bánh tẻ và có chứa đỉnh sinh trưởng, đặc biệt phải có môi trường thuận lợi. Quá trình trên chịu ảnh hưởng của 3 nhóm nhân tố sau: - Đặc điểm và trạng thái sinh lý của cây mẹ và cành giâm. - Các biện pháp kỹ thuật áp dụng đối với cành giâm. - Điều kiện môi trường trong vườn ươm như chế độ nhiệt, chế độ ẩm, độ nhiễm bệnh và cỏ dại.
Tỷ lệ và hàm lượng giữa nhóm auxin và xytokinin quyết định sự phân hoá các bộ phận trên và dưới mặt đất của cây chè. Với một hom chè để trưởng e 8 thành một cây chè hoàn chỉnh cần phải sinh trưởng rễ và chồi. Nhưng để hình thành rễ cần phải tăng hàm lượng các chất thuộc nhóm auxin lúc mới giâm, sau đó rễ tự động tổng hợp các chất thuộc nhóm xytokinin xúc tiến quá trình hình thành các chồi để tạo nên cây chè hoàn chỉnh. Đó là cơ sở của việc sử dụng một số các chất kích thích sinh trưởng để làm tăng khả năng ra rễ, tăng tỷ lệ suất vườn của những giống khó nhân giống.
Vai trò sinh lý của phân đa lượng (N:P:K) đối với cây chè Chè là cây công nghiệp lâu năm, bộ phận thu hoạch chính là búp và lá non, vì vậy cây chè cần được cung cấp và hấp thu dinh dưỡng liên tục suốt quá trình sinh trưởng và phát triển. Trong thành phần phân bón cho cây chè, các yếu tố đa lượng (N:P:K) đóng một vai trò hết sức quan trọng nó quyết định rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng chè thành phẩm. Vai trò của các yếu tố đa lượng (N:P:K) trong giai đoạn vườn ươm vô cùng quan trọng ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho hom chè sinh trưởng phát triển, khi bón cân đối các yếu tố đa lượng sẽ giúp cho cây tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chống chịu sâu bệnh hại. - Đạm (N): Là thành phần quan trọng của hợp chất hữu cơ cấu tạo nên diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein.
Đạm là dinh dưỡng thúc đẩy sinh trưởng, cải thiện kích thước chồi, kích thước lá, giảm sự ra hoa, kết trái trên cây chè, tăng năng suất, giúp ra lá nhiều, ra búp mới, lá xanh.Đối với giai đoạn chè vườn ươm đạm rất quan trọng, sau 2 tháng tiến hành bón đạm nhằm thúc đẩy sinh trưởng giảm sự ra hoa từ đó dinh dưỡng tập trung cho cây chè con phát triển. Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cũng không tốt. Thừa đạm sẽ làm cho cây không chuyển hóa hết được sang dạng hữu cơ, làm tích lũy nhiều dạng đạm vô cơ gây độc cho cây. Thừa đạm sẽ làm cho cây sinh trưởng thái quá, gây vóng.
Các hợp chất cácbon phải huy động nhiều cho việc giải độc e 9 đạm nên không hình thành được các chất “xơ” nên làm cây yếu, các quá trình hình thành hoa quả bị đình trệ làm giảm hoặc không cho thu hoạch, giảm sức đề kháng của cây chè đối với sâu bệnh. Đối với giai đoạn chè vườn ươm đạm rất quan trọng, sau 2 tháng tiến hành bón đạm nhằm thúc đẩy sinh trưởng giảm sự ra hoa từ đó dinh dưỡng tập trung cho cây chè con phát triển. - Lân (P2O5): Lân có vai trò quan trong trong quá trình trao đổi năng lượng và Protein.